Thursday, March 5, 2009

Thêm bằng chứng về bãi cọc Bạch Đằng năm 1288

"Một khu vực bãi cọc rộng 100m, dài tới 300m đã được xác nhận tại cánh đồng Vạn Muối (thuộc xã Nam Hòa, Yên Hưng, Quảng Ninh)", TS Lê Thị Liên (Phó Phòng Khảo cổ học lịch sử, Viện Khảo cổ học VN)đã cho biết sau đợt thám sát kéo dài 10 ngày vừa qua.

Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, sau ít nhất 700 năm, những trận địa bãi cọc huyền thoại của Ngô Quyền (năm 938) và Trần Hưng Đạo (năm 1288) trên sông Bạch Đằng vẫn còn đó, dù dòng sông này đã thay đổi đến nỗi chính các nhà địa chất, thủy văn cũng khó có thể hình dung.

TS Liên cho biết:

- Đợt thám sát chỉ kéo dài trong khoảng 10 ngày, rất cấp tập, vì khu vực thám sát là đầm, hồ, ao ruộng ngập nước. Bằng mắt thường, cũng có thể chấm được những điểm trên thực địa có cọc. Nhờ sự mách bảo của người dân, chúng tôi đã tìm thấy các cọc và đánh dấu vị trí của chúng vào sơ đồ. Tổng kết lại, chúng tôi thấy khu vực có cọc nằm rải rác trên một diện tích dài 300m, rộng 100m.

Trên diện tích đó, đã thống kê đầy đủ số lượng cọc "lộ thiên" và bị chôn vùi dưới bùn đất chưa?

- Có điểm, sau khi "dò" được hai cọc, chúng tôi đã đào thám sát xung quanh, phát hiện thêm 8 cọc nữa, cắm xiên, hoặc đã bị đổ nghiêng. Chúng tôi mới chỉ đào thám sát 4 hố, tổng diện tích 100m2, phát hiện một số lượng cọc khá dầy, hố nhiều nhất có tới 20 cọc. Tổng cộng đã phát hiện 51 chiếc cọc Bạch Đằng, tất nhiên có cọc chỉ còn lại một mẩu gỗ rất ngắn.

Liệu có đúng là bãi cọc Bạch Đằng không?

- Người ta cũng đã đặt câu hỏi này, và hơn nữa, nếu đây thực sự là cọc Bạch Đằng, thì là cọc thời Ngô Quyền hay Trần Hưng Đạo? (Vì trong lịch sử có hai trận chiến Bạch Đằng cách nhau gần 300 năm đều sử dụng trận địa bãi cọc). Tôi không dám phán đoán cụ thể. Nhưng chắc chắn đây không phải cọc tự nhiên mà là cọc nhân tạo, do con người chủ định cắm xuống vì vết đẽo ở đầu dưới cọc (đầu cắm xuống bùn) còn rất rõ rệt.

Còn đầu trên của cọc (lịch sử ghi quân ta đã cắm cọc bịt sắt ở đầu cắm xuống sông) thì chưa thể nói vì sau hàng bao nhiêu năm, đầu cọc nhô lên đã gầy hoặc mục nát hết. Chỉ những phần được cắm trong lớp phù sa nguyên thủy thì vẫn còn nguyên, và gỗ hãy còn tốt như mới vậy.

Người ta thường nói các cọc Bạch Đằng đều bằng gỗ lim?

- Hiện tại chúng tôi vẫn chưa phân loại gỗ, nhưng chắc chắn không phải tất cả đều là gỗ lim.

Nói thực, nhìn bãi cọc, bà có thấy nó thực sự hiểm trở như lịch sử ghi lại không?

- Tại khu vực này, người xưa đã dùng loại cọc đường kính từ 7-10cm, to nhất là 20-22cm, cũng đã phát hiện những cọc dài trên 2m (mà vẫn còn xuyên vào bùn chưa lộ hết). Trước đây, các nhà khoa học cũng đã phát hiện bãi cọc Bạch Đằng, cọc rất to và thường cắm đứng. Nhưng tại đây, tôi thấy người xưa cắm rất hiểm, theo nhiều thế khác nhau, thường xiên 45 độ theo một hướng. Theo nhận xét của chính các dân công địa phương làm việc cho chúng tôi, thì cách cắm này rất lắt léo, sa vào đó thì khó mà ra được. Nhất là cắm trong khu vực bãi lầy như thế này (lớp phù sa cắm cọc dày trên 1m, và bây giờ nếu lội xuống thì bùn nước ngập vẫn đến ngực)...

Bà có nghĩ rằng vẫn còn rất nhiều cọc trong khu vực này chưa phát hiện hay không?

- Đây mới chỉ là đợt thám sát sơ bộ với diện tích đào rất ít. Chúng tôi nghe kể rằng trong quá trình làm ruộng, nuôi cá trên cánh đồng này, người dân đã chạm đến cọc và nhổ đi rất nhiều mang về làm nhà, đánh cây rơm... Khi đến thăm một gia đình, chúng tôi rất sửng sốt khi gia chủ chỉ cho xem một đoạn xà nhà dày 10 phân là cọc Bạch Đằng "xịn". Họ kể rằng từ đời ông họ, cách đây 80 năm đã nhổ cọc mang về xẻ đôi ra được 2 tấm làm nhà. Gỗ đến nay vẫn còn rất chắc.

Vâng, đúng là các cụ hơn 700 năm trước đánh giặc mà đến bây giờ con cháu vẫn được "hôi của". Hiện nay đã có kế hoạch gì để bảo vệ bãi cọc chưa?

- Ngành văn hóa chủ trương tiến hành điều tra thám sát toàn bộ khu vực này để lập hồ sơ công nhận di tích lịch sử quốc gia cho toàn bộ khu vực bãi cọc Bạch Đằng (bao gồm cả khu Yên Giang đã phát hiện trước đây). Trải qua ngần ấy năm, bãi cọc vẫn tồn tại, thế nhưng nếu không có biện pháp bảo vệ thì những phần đầu cọc "nhô lên" khỏi lớp bùn gốc vẫn bị hủy hoại.

Xin cảm ơn bà!

Theo Thể thao và Văn hóa

Lai lịch vua Chế Mân và tiểu sử Huyền Trân công chúa

Lai lịch Vua Chiêm Thành Chế Mân

Chế Mân là con trưởng của vua Jaya Indravarman V, là anh cả trong gia đình có 5 con trai ( Kinh thế đại điễn tự lục -NS , tờ 5a quyển 210 )

Trong cuộc kháng chiến của dân tộc Chiêm Thành chống lại quân xâm lược Mông Cổ vào các năm 1282 -1285 thì tất cả mọi quyền hành và các quyết định quan trọng nhất đều ở trong tay Chế Mân vì vua Chàm đã già rồi . Chế Mân là Đại tướng cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Vijaya ( Qui Nhơn ) Kinh đô của Champa , một vị anh hùng trẻ tuổi của dân tộc Champa

Trong tác phẩm Cuộc Kháng Chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn- Phạm thị Tâm, trang 130 dẫn chứùng từ Nguyên Sử quyển 12, bản kỷ tờ 3b trang 4a đã viết về Chế Mân như sau : " ... Ngày 16 tháng 7 năm 1282 Hốt tất Liệt ra lệnh điều động 5 nghìn quân của các tỉnh Hòai Triết Phúc Kiến..100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Chiêm Thành...Một trong những người cương quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt tất Liệt là thái tử Harijit ( Chế Mân ) con vua Indravarman V.. Lúc bấy giờ vua Chiêm đã già . Chế Mân nắm tất cả trọng trách trong nước. "

Marco Polo trong " Đến Chiêm Thành năm 1285" có viết : " Vua Jaya Indravarman V chống cự với Toa Đô trong các thị trấn và thành quách vững chắc, ông không sợ gì cả..." Và Marco Polo nhận định về Chế Mân ".... một người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù ".

Trong Chiêm Thành truyện trang 4a của Nguyên Sử thì đánh giá Chế Mân như sau " Chế Mân con vua Chiêm chuyên giữ việc nước , cậy hiểm không phục "

Trong Kinh thế đại điển tự lục tờ 570 Chép lời Hốt Tất Liệt nhận định về Chế Mân như sau..." Lão Vương (Indravarman V) không có tội gì , kẻ nghịch mệnh là con (Chế Mân) của y , nếu bắt được thì cứ theo như việc cũ của Tào Bân, trăm họ không giết một người "

Trong An Nam truyện của Nguyên Sử , quyễn 209 trang 5b chép "...ngày 16 tháng 4 năm 1284 . An phủ Sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành , sai 20000 quân và 500 thuyền ứng viện. Vua Trần nhân Tông lại gởi thư đến hàng tỉnh , đại lược nói Chiêm thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh thật đáng xót thương "

Xem như vậy giữa Vua Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có một sự gắn bó ,liên kết với nhau trong một liên minh chống lại trong mưu đồ đánh chiếm vùng Đông Nam Á của quân Mông Cổ

Tiểu sử của Công Chúa Huyền Trân

Công Chúa là con gái út của vua Trần Nhân Tông là em ruột của vua Trần Anh Tông và Quốc phụ thượng tể Trần quốc Chẩn , nàng sinh vào khỏang năm Kỷ sửu Trùng Hưng năm thứ 5(1289) năm mà Trần Hưng Đạo dùng kế để giết Ô Mã Nhi

Năm 1306 gả Công chúa Huyền Trân thì Thượng hòang Nhân Tông (1258-1308) khỏang 47 tuổi , vua Anh Tông (1276-1320) ở tuổi xấp xỉ 30 và Công chúa độ 18 , vua Chế Mân vào khỏang 35 đến 40 và Trần Khắc Chung 40-50.

Sở dĩ tính được như vậy vì trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của Vương quốc Champa vào năm 1283 thì Chế Mân đã là Thái Tử cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Thành Gỗ gần Kinh đô Vijaya của Champa , còn Trần Khắc Chung lúc nhận nhiệm vụ thuyết khách , đi gặp tướng Mông Cổ Ô Mã Nhi vào tháng giêng năm 1285 ít nhất cũng phải trên 20 tuổi . Ở thời điễm gã Công chúa Huyền Trân, Trần Khắc Chung khỏang 40 đến 50 tuổi

Bác sĩ Hồ Đắc Duy

(St)

Diễn biến của cuộc hôn nhân giữa vua Chàm Chế Mân và Công Chúa Huyền Trân

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 556 chép : Tháng ba năm Tân Sửu (1301) Thượng Hòang Trần Nhân Tông sang chơi Chiêm Thành . Thượng hòang xuất gia ở núi Yên Tử , thường muốn đi chơi xem khắp núi sông nhân du lịch đến một địa phương tiện đường sang chơi Chiêm Thành ( có hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân).

Sách Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam chép : " Tháng hai năm Ất Tî (1305) Sứ bộ Chế Bồ Đà của vua Chiêm Thành đến dâng lễ vật cầu hôn vì Thượng Hòang Nhân Tông năm 1301 sang chơi Chiêm Thành đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm thành Chế Mân "

Còn ĐVSKTT trang 86 viết : " năm Ất Tî Hưng Long năm thứ 13 (1305), Mùa xuân, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn. Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành việc đó mới quyết."

Năm Bính Ngọ Hưng Long năm thứ 14 (1306) Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân.

Ntilde;VSKTT trang 91 viết : " Năm Đinh Mùi Hưng Long năm thứ 15 (1307) Mùa hạ, tháng 5, Chế Mân chết.

Mùa thu, tháng 9 Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng .

Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa và thái tử Đa Đa về.

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô thì Sĩ trang 408 chép Mậu thân Hưng Long năm thứ 16 (1308) mùa đông tháng 11 ngày mồng một , mặt trời có hai quầng. Thượng Hòang băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử...Nhân Tông làm thiên tử lại làm Thái Thượng hòang đi tu lên núi, ở am rồi mất ..Việc trong thiên hạ có gì lớn hơn việc ấy ...

Trong Đại Việt Sử Ký Tòan Thư có đọan chép như sau: Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói với người Chiêm :"Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu" Người Chiêm nghe theo Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô.

Bác sĩ Hồ Đắc Duy

(St)

CÓ THỂ NÀO TRẦN KHẮC CHUNG DÙNG THUYỀN NHẸ CƯỚP LẤY CÔNG CHÚA ?

CÓ THỂ NÀO TRẦN KHẮC CHUNG DÙNG THUYỀN NHẸ CƯỚP LẤY CÔNG CHÚA ĐEM VỀ, RỔI TƯ THÔNG VỚI CÔNG CHÚA ĐƯỢC HAY KHÔNG ?

Đây là một câu hỏi mà người viết muốn nêu ra và xin các vị cùng góp ý

Để làm sáng tỏ nghi vấn này, thiết tưởng vấn đề là nên dựng laị,vẽ lại hiện trường chiến dịch giải cứu công chúa với các câu hỏi được trả lời hợp lý nhất :

1. Khắc Chung có thể dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa được haykhông ?

2. Hay chuyện rước công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt là kết qủa của việc thương lượng giữa Sứ giả Trầân Khắc Chung với Triều đình mới của Champa.

3. Lực lượng hải quân của Champa lúc bấy giờ ở các quân cảng của Champa (Sa hùynh) (Đà Nẳng)(Thuận an) (Cửa Việt) liệu có ngăn chặn việc giải cứu này nếu có hay không?

4. Phương tiện mà Trần Khắc Chung dùng là thuyền, vậy thuyền được thiết kế và đóng cách đây 700 năm liệu có đủ sức để.. đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô hay không ? thuyền dài và ngang bao nhiêu ? Chắc chắn không phải là lọai du thuyền hiện đại có gắn động cơ như ngày nay, mà chỉ có thể hình dung như một lọai thuyền đánh bắt hải sản không gắn dộng cơ , có buồm dài khỏang 10 dến 12 mét ngang khỏang 2mét 5 đến 3mét 5 , không phải được thiết kế thân to như loại ghe bầu chạy trên sông, phải có mũi cao , đáy nhọn để cỡi lên sóng được.

Những lâu thuyền thời bấy giờ kích thước không lớn lắm không phải được đóng như lọai thuyền của Marco Polo hay loại thuyền cướp biển của Âu Châu, nó chỉ chạy cách bờ vài chục cây so.á

5. Hệ thống tiếp tế nước ngọt và lương thực thực phẫm cho chuyến loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đôdo ai cung cấp và nếu do các quan lại địa phương thì triều đình có biết không và họ có làm ngơ trước hiện tượng kỳ lạ này không ?

6. Hệ thống ánh sáng dùng trên thuyền thời bấy giờ là dầu phôïng hay dầu dừa , liệu có đủ tiện nghi như là điện như ngày nay không ?

7. Khoang để cho Công chúa ở trên thuyền ước chừng 2mét 5 x 3 mét là tối đa lại có các hầu gái nữa. Thế tử Chế Đa Da có cùng đi với công chúa hay ở lại Champa , nếu cùng đi thì Thế tử ở đâu có cùng trong khoang của công chúa hay không ?

8. Trên thuyền của Công chúa có bao nhiêu thủy thủ , bao nhiêu tay chèo , bao nhiêu hầu gái thị nữ ,đầu bếp...đi theo và liệu một chiếc thuyền nhẹ như thế có thể phục vụ cho một chuyến du dương trên biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô.?

9. An phủ sứ Đặng Vân và quần thần đi theo trong chiến dịch giải cứu có luôn luôn theo dõi và bảo vệ bên cạnh công chúa hay không ?

Họ có can gián hay đồng tình với hành độâng này của Trần khắc Chung hay không ?

10. Có bao nhiêu thuyền đi theo hộ tống chiến dịch này và họ có phải đi theo chuyến đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô này hay không?

11. Ai là người chỉ huy cung cấp lương thực thực phẫm cho chuyến du dương trên biễn lâu ngày này . ?

Họ là ai ? họ là là các quan lại triều đình như vậy vua Trần Anh Tông và Thượng Hòang Nhân Tông có biết không ?

Trần Khắc Chung với danh dự , địa vị xã hội với chức vụ Thủ tướng mà hiệm ,với gia đình nhà cửa , vợ con tài sản dòng họ , với lòng tin của Thượng Hòang Trần Nhân Tông và Vua Anh Tông khi giao phó sứ mệnh giải cứu này liệu ông có dám tư thông với công chúa hay không ?

Trần Khắc Chung hiểu rõ cơn thịnh nộ khó lường được của nhà vua và triều đình nếu ông tư thông với công chúa. Một người khôn ngoan như ông, một người đã tu theo môn phái Thiền và đứng tuổi như ông chắc khó mà có một hành động nông nổi , mất đạo lý như thế.!

Với tâm lý , phương tiện và môi trường như vậy e rằng cho dù Trần khắc Chung dù có muốn thì cũng khó mà dám tư thông được !



Bác sĩ Hồ Đắc Duy

(St)

CÔNG CHÚA CÓ THUẬN LÒNG TƯ THÔNG VỚI TRẦN KHẮC CHUNG HAY KHÔNG ?.

VỀ PHẦN CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN THÌ CÔNG CHÚA CÓ THUẬN LÒNG TƯ THÔNG VỚI TRẦN KHẮC CHUNG HAY KHÔNG ?.

Sau chiến thắng quân Nguyên ,tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) Thượng Hòang Nhân Tông cất quân đánh Ai Lao như một lời nhắn nhũ các quốc gia trong vùng, và nếu ông muốn xâm chiếm các nước khác thì không phải là chuyện không làm được . Bấy giờ các quốâc gia này mỗi năm đều có triều cống cho Đại Việt . Cho nên việc Thượng Hòang Trần Nhân Tông gã Công Chúa Huyền Trân cho Vua Champa ngòai việc thắt chặc bền vững thêm mối dây liên kết, tạo thêm sự hòa hiếu giữa hai nước, chắc chắn Thượng hòang Nhân Tông một vị anh hùng dân tộc đã từng đánh bại quân xâm lược Mông Cổ hai lần, một nhà ngoại giao khôn khéo, một vị lảnh đạo tài ba và cũng là một vị thiền sư trầm mặc phải có một cái nhìn như thế nào về Chế Mân và hạnh phúc lứa đôi cho người con gái yêu dấu của mình khi ngài quyết định gả Công Chúa cho Vua Champa lúc đó nàng mới lên 12 tuổi.(1301) Sau khi hứa gả Thượng hòang Trần Nhân Tông chắc chắn đã phải sửa sọan cho Công chúa một chế độ giáo dục đặc biệt nhất là về ngôn ngữ phong tục, văn hóa Champa.

Thượng hòang chỉ cho phép thực hiện điều đó khi cô con gái cưng của ông đến tuổi trưởng thành, vững vàng trong cuộc sống chồng vợ và có một số vốn kiến thức văn hóa, phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ Champa .

Không biết Vua Trần Nhân Tông có nghĩ rằng mình trở thành ông ngọai của vị Hòang đế của Champa trong tương lai hay không? Và ông có nghĩ là công chúa Huyền Trân sẽ thực sự trở thành Đệ nhất phu nhân của vương quốc Champa thay thế cho Hòang Hậu vợ vua Chế Mân là công chúa nước Java đã chết trước đó nhiều năm ?

Tháng 6 năm 1306 Chế Mân rước nàng về làm vợ , nàng vừa đúng 18 tuổi.

Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết.

Tháng 9 năm 1307 Công chúa Huyền Trân sinh Thế Tử Chế Đa Da tại kinh đô Vijaya.

Mất một tháng cho chuyến hành trình rước dâu đi từ Thăng Long cho đến Kinh đô Champa thì sớm nhất để công chúa có mặt ờ Champa và chung sống với Chế Mân cũng vào khỏang cuối tháng 7 hay trung tuần tháng 8 năm 1307.

Nếu tính sát sao như vậy , khi Chế Mân qua đời thì Công chúa mang thai được 4 đến 5 tháng.

Theo phong tục vương triều Champa thì lễ trà tỳ cho vua là 7 đến 10 ngày sau khi vua băng hà.

Người ta không hỏa táng đối với phụ nữ đang mang thai, trẻ sơ sinh và những người vị thành niên vì người Bà la môn tin rằng phải chôn để cho những người này về với cát bụi, còn ngưởi trưởng thành thì hỏa táng để cho họ trở về với hư không và đó cũng là lý do mà tại sao công chúa không bị hỏa táng theo Chế Mân.

Tháng 10 , An phủ sứ Đặng Vân và Trần Khắc Chung sang đón Công chúa Huyền Trân, lúc đó công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, công chúa vừa sinh xong tháng trứơc.

Thử phân tích tâm lý và tình trạng hậu sản của công chúa Huyền Trân lúc bấy giờ ta thấy có vài điểm cần lưu ý :

Chồng vừa mới chết.

Sinh con so, sinh con ở một nơi không có ai thân thuộc như mẹ, dì, chị em...ở một xứ có phong tục tập quán sinh nở khác với Đại Việt, điều này gây nên một tâm lý hỏang sợ lo âu cho sản phụ, một ấn tượng sợ hãi có thể kéo dài trong nhiều tháng.

Công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, về phương diện y học thì thời gian hậu sản nầy kéo dài vài tháng đến nửa năm, nếu như cách đây 700 năm với hiểu biết vệ sinh, phòng bệnh và các phương tiện, thuốc men chăm sóc cho một sản phụ sau khi sinh nở thì còn rất lạc hậu , đâu có cắt tầng sinh môn, đâu có trụ sinh, phòng cách ly vô trùng như bây giờ, vả lại đối với công chúa đây là lần sinh đầu tiên trong đời, sinh con so khó khăn gấp nhiều lần sinh con rạ, thời gian để lành vết thương hay rách âm đạo, thời gian để co hồi tử cung, hoặc nhiễm trùng hậu sản và phần phụ có thể kéo dài rât lâu, theo phong tục tập quán của người Việt Nam thời gian "phong long" là 3 tháng 10 ngày, ngưởi ta thường thường có thói quen treo trứớc phòng sản phụ một nắm lá cây có cây xương rồng, dó là một dấu hiệu, nhắc nhở cho người đàn ông biết chỉ được phép vào phòng vợ và tư thông sau khi cây xương rồng này khô đi !!!! đây chỉ là đầu thế kỷ XX mà thôi thì còn ở thế kỷ thứ XIV e rằng thời gian ở cử này còn lâu hơn nữa. Điều đó cho thấy về phương diên thuần túy Y Học khó thể có chuyện tư thông được.

Việc đưa Huyền Trân về Đại Việt có được thông báo cho nàng biết và có sự bằng lòng của nàng hay không ?

VIỆC ĐƯA HUYỀN TRÂN RA BỜ BIỂN CHIÊU HỔN Ở VEN TRỜI, ĐÓN LINH HỔN CÙNG VE À, RỔI SẼ VÀO GIÀN THIÊU" LÀ KẾT QỦA CỦA VIỆC THƯƠNG LƯỢNG GIỮA SỨ GIẢ TRẦÂN KHẮC CHUNG VỚI TRIỀU ĐÌNH MỚI CỦA CHAMPA HAY LÀ MỘT VỤ ĐÀO THÓAT.

Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và cường thịnh nhất vùng Đông Nam Á. Việc giao hảo Đại Việt Chiêm Thành ở vào một giai đoạn tốt đẹp nhất, hai nước đang cùng chung một chiến tuyến để chống quân xâm lược Mông Cổ. Người Chiêm Thành hiểu rõ hơn ai hết nếu công chúa Huyền Trân lên giàn hoả thiêu để chết theo Chế Man sẽ là một tai hoạ cho họ.

Nhiệm vụ của Trần Khắc Chung và Đặng Vân là phải thương thuyết làm sao cho mối bang giao giữa hai nước vẫn tốt đẹp màø phải đem công chúa về nước thật an toàn nhưng không làm thương tổn đến truyền thống đạo lý tôn giáo của Champa.

Giải pháp nào là giải pháp phù hợp nhất ắt có và đủ cho hai điều kiện đó mà không gây tổn thương cho hai nước.?

Vậy , đưa công chúa ra biển cầu hồn cho Chế Mân và làm lễ trà tỳ cho công chúa Huyền Trân là giải pháp tốt đẹp nhất vừa thực hiện đúng theo truyền thống Champa, vừa tiện lợi cho Trần Khắc Chung đưa công chúa về bằng đường biển.

Giải pháp này cũng sẽ hợp lý nhất để cho thế tử Chế Đa Da ở lại Chiêm quốc vì Thế tử là con vua Chế Mân và là một Hòang tử của Champa.

Chiêm Thành là một quốc gia có một dãi bờ biển khá dài, thạo về thủy chiến và có một đội chiến thuyền rất hùng hậu, điều đó có thể thấy được khi Chế Bồng Nga tấn công Đại Việt bằng thuyền chiến. Thuyền chiến của họ vào tận Thăng Long. Nếu Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp thì liệu có dễ dàng vượt qua được hàng rào hải thuyền của Chiêm Thành không ?

Việc đào thoát bằng đường biển liệu có an toàn cho sức khỏe công chúa hay không?

Thuyền của Khắc Chung nếu có thì đang ở trong vịnh Quy Nhơn (còn gọi làThi bị thì nại hay Thị Nại) trước mặt kinh đô Vijaga như vậy là Khắc Chung đã vào sâu trong hải phận của Champa ít nhất là 600 cây số lúc đó (1285) biên giới của Chiêm Thành là tại Quảng Bình ngày nay.

Nếu có việc đánh tháo thì chắc chắn là có thể có sự rượt đuổi. Và liệu Khắc Chung có vượt qua một cách an toàn khi đi ngang qua cửa Quy Nhơn và các quân cảng của Chiêm Thành ở vùng Đại Lãnh, Hải Vân, Cửa Việt hiện nay trước khi về Thăng Long ?

Và nếu đi dùng dằng cả mấy tháng thì có bị săn đuổi hay lấy lương thực, thực phẩm và tiếp tế ở đâu ?

Di chuyển bằng thuyền, đi trên biển đâu có phải nhẹ nhàng an toàn như trên sông hay trên mặt hồ !

Câu" Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô "Câu này có vẻ như là câu trong tiểu thuyết trữ tình hơn là xảy ra trên thực tế. Nếu đem phân tích trong một điều kiện thực tế thì qủa là thật gay cấn, riêng một chuyện tiếp tế lương thực, thực phẩm nước uống hay chống chọi lại một vài cơn bão, gió đổi mùa kiểu cấp 4, 5 là đủ xanh mặt rồi.

Thuyền chở công chúa với kỹ thuật đóng tàu thời bấy giờ có thể chịu nỗi để khỏi bị chìm ?

Công chúa có bị say sóng không? Công chúa có thể dung dăng dung dẻ và tính chuyện tư thông ?

Với một số dữ kiện mà chúng tôi đưa ra thì có thể hình dung rằng khó có thể có chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trân và Nhập Nội Hành Khiển Thượng Thư Tả Bộc Xạ Trần Khắc Chung được.

Nhưng tại sao ĐVSKTT lại chép chuyện này và sử thần Ngô sĩ Liên lại lên án Trần Khắc Chung môt cách quá nặng nề ?

Trong ĐVSKTT trang 92 Ngô sĩ Liên viết : " Thói gian tà của Trần Khắc Chung thật là quá quắt lắm! Không những hắn giỡ trò chó lợn ở đây mà sau này còn hùa vào với Văn Hiến vu hãm quốc phụ thượng tể vào tội phản nghịch, làm chết oan đến hơn trăm người. Thế mà hắn được trọn đời phú quý. Khổng Tử nói: "Kẻ gian tà được sống sót là may mà được thóat tội chăng?"

Song sau khi hắn chết, gia nô của Thiệu Vũ Vương đào xác hắn lên mà vằm nhỏ ra thì lời thánh nhân càng đáng tin."

Hoặc ở trang 114 Ôâng lại lên án một lần nữa : " Còn như Khắc Chung cũng là nhân vật của một thời, vua trao cho hắn chức vị sư bảo, và đem việc nước hỏi hắn, đáng lẽ phải hết lòng trung khuyên can, để cho vua mình trở thành Nghiêu Thuấn mới phải. Thế mà lại hùa vào với kẻ quyền quý làm hại người ngay thẳng, đi theo bọn gian tà, đẩy người lành đến nỗi oan khiên, hãm đức vua vào việc tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì mà không nhẫn tâm làm nữa. Sau lại xui vua cầu công đi đánh Chiêm Thành, thì cái thói nịnh hót lại hiện ra nữa. Cho nên bậc làm vua khi chọn người hiền phải xét kỹ họ, là bởi sợ rằng có đứa tiểu nhân như bọn Trần Khắc Chung có thể lọt vào trong đó vậy.

Chúng tôi xin hẹn kỳ sau sẽ tham luận tiếp . Một số câu hỏi chúng tôi muốn các bạn lưu ý là các đọan viết về sự kiện Huyền Trân ở trong:

1. Bản Đại Việt Sử Ký thời Nhà Trần vào khỏang năm 1310 có điều gì khác với Đại Việt Sử Ký Tòan Thư được khắc in năm Chính Hòa thứ 18 không?

2. Bản Đại Việt Sử Ký Tòan Thư ( bản Chính Hòa năm 1697 )mà chúng ta đang có thể khác điều gì với những lời của sử thần Ngô Sĩ Liên bàn trước đó hơn 200 năm là vào những năm 1479 khi vua Lê Thánh Tông bổ nhiệm ông tu soạn Đại Việt Sử Ký Tòan Thư.

3. Ai là kẻ thù của Trần Khắc Chung ?

4. Ai là kẻ thù của Triều Đại nhà Trần ?

5. Các Ngự sử trong triều đình Tràân Anh Tông, Trần Minh Tông , Trần Hiến Tông liệu không có ai đàn hạch về chuyện tư thông này chăng ?

6. Các nhân vật tên tuổi như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu , Mạc Đỉnh Chi liệu không có ai lên tiếng về vấn đề này hay chăng ?

7. Tại sao Thượng hòang Nhân Tông và vua Anh Tông im lặng trước chuyến đi đường biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô? Có lẽ vua đã hiểu nỗi thống khổ, đau đớn, thời gian hậu sản kéo dài của cô con gái bất hạnh mong manh yếu ớt còn quá trẻ của mình?

HỔ ĐẮC DUY

Tài liệu tham khảo :

Đại Việt Sử Ký Tòan Thư ( bản Chính Hòa năm 1697)

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô thì Sĩ

Sách Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam

Cuộc Kháng Chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn- Phạm thị Tâm

Có hay không chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân Công Chúa ?

Bác sĩ : HỔ ĐẮC DUY

Huyền Trân Công Chúa !

Đó là tên một con đường của Huế ngày xưa nên thơ nằm giữa một ngọn đồi thấp xanh mướt những tàng cây và sông Hương thâm trầm mơ mộng . Con đường cứ thế chạy mãi chạy mãi cuối cùng gặp một bức trường thành bằng đất đỏ chắn ngang gọi là Thành Lồi , chứng tích một thời vàng son của vương quốc Champa , Người Huế chọn tên Công Chúa để đặt tên cho con đường vô tình hay hữu ý đã lồng lấy số phận đầy kịch tính của một trang quốc sắc thiên hương lên số phận của con đường chăng ?

Còn ở Sàigon con đường mang tên Huyền Trân hầu như không có nhà , thật ngắn với những hàng cây cao vút , nằm sau lưng dinh Norodome . Đêm đêm con đường vắng vẻ chính là nơi hò hẹn của những cặp tình nhân nên một thời nó được mệnh danh là con đường của tình yêu và tội lổi !

Dư luận và một số sử gia lại gán ghép tên nàng vào một uẫn tình không có thật,đúng hơn là một mối ô nhục khi bảo rằng nàng đã tư thông với Trần Khắc Chung !

Tư thông là một từ mô tả việc quan hệ tình dục có sự dồng ý của cả hai phía một cách bất chính.

Bài viết này sẽ nêu ra những luận chứng mang tính khoa học không chỉ đễ minh oan mà còn đòi hỏi lịch sử phải trả lại sự vẹn tòan phẫm giá và tấm lòng trung trinh, danh dự không những cho công chúa, Thượng hòang Trần Nhân Tông cha của nàng và cả triều đình bấy giờ mà lẻ ra hậu thế phải tri ân thay vì ngộ nhận

Trần Khắc Chung là ai ?

Đại Việt Sử Ký Tòan Thư (ĐVSKTT) trang 64,113 chép : Trần Khắc Chung tên thật Đỗ Khắc Chung người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông và cũng là thầy dạy học của hai vì vua Trần Minh Tông , Hiến Tông.

Năm Ất Dậu, Thiệu Bảo năm thứ bảy (1285) .Khắc Chung làm Chi hậu cục thủ có em ruột Đỗ Thiên Hư cũng là một người nổi tiếng đương thời từng được cử làm Sứ thần sang Nguyên năm 1288.

Đỗ Khắc Chung lấy Bảo Hòan. Khỏang đời Trùng Hưng, người Nguyên vào cướp, cha mẹ Bảo Hòan hàng giặc, ruộng đất, tài sản đều bị tịch thu sung công. Đến khi vua lên ngôi, xuống chiếu trả lại.

Mùa hạ tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289) Ông là một trong những người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 được vua ban quốc tính nên đổi là Trần Khắc Chung và được phong chức Đại Hành Khiển ( tương đương chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ ngày nay) vào năm 1289 là lúc công chúa Huyền Trân vừa chào đời . Người đời đều khen ông là giỏi. Mất năm 1330 cùng với Trần Nhật Duật , được tặng chức Thiếu Sư một chức đứng hàng thứ hai thời bấy giờ , được đưa về an táng ở Giáp Sơn .

Ông đã giữ nhiều chức vụ khác nhau và quan trọng trong suốt bốn triều đại (Trần Nhân Tông , Trần Anh Tông , Trần Minh Tông , Trần Hiến Tông) , Ông đã từng là thuyết khách , Tể tướng, Thượng Thư , Ngự Sử đại phu, Đại an phủ kinh sư , Quan Nội Hầu , Sư Bảo và là sứ giả cùng với An Phủ Sứ Đặng Vân chỉ huy chiến dịch cứu thóat Công Chúa Huyền Trân ,..

Ông là một người tu theo đạo Phật , môn phái Thiền tông , là người viết lời bạt cho tập "Tuệ Trung Thượng sĩ" do nhà sư Pháp Loa biên tập và vua Trần Nhân Tông hiệu đính.

Ông thường được các vua Trần hỏi ý kiến và kính trọng, là cột trụ của nhiều triều đại hiễn hách đời Trần, sống cùng thời với vua Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo ,Trần quang Khải , Phạm ngũ Lão , Mạc đỉnh Chi.....

Ntilde;ánh giá về Trần Khắc Chung ĐVSKTT trang 52 chép rằng Vua (Hòang Đế Trần Nhân Tông) mừng nói rằng: " Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký như thế!" ( Ngựa kỳ, ngựa ký là chỉ những lọai ngựa quý, ngựa tốt )

Còn Ô Mã Nhi là một tướng của quân Nguyên thì bảo với các các tướng dưới quyền rằng:"Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xuống là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối . Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được " (ĐVSKTT trang 52)

Hàn Lâm Viện Thị Giảng

Mặt sau tấm hình của ông nội là một bài thơ ông làm và ký tên Hàn lâm viện thị giảng Trần Hữu Giương.


Photobucket

Tôi đã được nghe bố nói về chức quan này là quan giảng bài cho vua...phẩm hàm của nó đứng sau Hàn lâm viện thị độc.

Tình cờ, đọc được bài viết sau nói khá rõ và chi tiết về các chưc quan văn trong Hàn lâm viện...chép vào đây cho mọi người cùng đọc nhé...Còn dĩ nhiên, ông nội của chúng ta là quan thực sự, chứ không phải hư hàm đâu nhé

CÓ NHỮNG ÔNG NGHÈ không đỗ Tiến sĩ. . .

Trong tập hồi ký Thượng tứ ngày xưa, nhớ nhớ...quên quên , đọc thấy có đọan Quế Chi Hồ Đăng Định viết:

“Cái thằng bạn thứ hai là thằng Rô, con bác Nghè Đãi, mở tiệm bán thuốc Bắc hiệu Phước Thọ Đường, bác gái mạ hắn thì chuyên cầm đồ thượng vàng hạ cám. Tôi cứ thắc mắc mấy chục năm ni mà chưa có dịp hỏi hắn. . . Là thường thường ai đậu Tiến sĩ mới được kêu là ông Nghè, rứa thì ba hắn đậu cái chi mà cũng cứ gọi là ông Nghè?. . . Cũng tương tự như vậy, trong xóm tôi, ngã đầu Hậu Bổ, cũng có bác Nghè Quế, thợ may, bạn của ba tôi, không biết có Tiến sĩ không???” (tr.43)

Tôi tin rằng dẫu Quế Chi có gặp lại người bạn cũ tên Rô mà nêu thắc mắc này thì cũng không mấy hy vọng có lời giải đáp, bởi chuyện nghe và thấy sờ sờ mà không đơn giản. Tôi có một ông anh rể, lấy bà chị con ông bác. Ông anh này đầu quân vào ngạch công chức Nam triều. Tôi nhớ khi anh bắt đầu sớm vác ô đi tối vác về thì mẹ tôi dặn từ nay phải gọi bằng anh Thừa – sau mới biết là gọi tắt của hai chữ Thừa phái, là hạng công chức Nam triều mới tuyển dụng, đang còn ở giai đọan tập sự công việc chành chánh. -- Vài năm sau, lại nghe mẹ tôi đổi kêu là anh Nghè, và bảo anh em chúng tôi cũng gọi như thế, vì “anh Thừa mới lên chức”. Trẻ con, biểu sao nghe vậy, cho đến khi đi học, nghe thầy giảng rằng người đỗ Tiến sĩ mới được gọi là ông Nghè, bèn nghĩ trong bụng: mình có ông anh rể oai thiệt. Lớn lên, mới biết có những ông Nghè không cần đỗ Tiến sĩ, và họ cũng không phải lọai Tiến sĩ giấy, như trong một bài thơ châm biếm của Nguyễn Khuyến:


Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai;

Cũng gọi ông Nghè có kém ai;

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


Ngòai vụ những ông Nghè như thế này, tôi còn thấy trong xã hội ta ngày trước, có những ông quan mà không phải quan. Chẳng hạn ông già vợ của bạn tôi thường được mọi người kêu là ông Hường K. Tôi đinh ninh chắc ông cụ hồi trước có làm quan, đến chức Hường (Hồng)lô Tự khanh nên mới được gọi như thế. Sau mới biết là ông cụ vốn là y tá thượng hạng hưu trí của ngạch Bảo hộ. Lại một ông khác, vốn là Phán sự Tòa Khâm sứ Huế, cũng là công chức thuộc ngạch Bảo hộ của Pháp, ban đầu được mọi người trong xóm kêu là ông Phán, nhưng một thời gian lâu sau, lại đổi gọi là ông Hường, dù ông vẫn còn làm việc cho Tòa Khâm và thường mặc Âu phục, chứ chẳng thấy khăn đóng áo dài, bài ngà, gì cả..


Xem ra, việc một người không học hành đỗ đạt gì cả nhưng vẫn được gọi là ông Nghè, hoặc không gia nhập quan trường nhưng vẫn được gọi ông Cửu, ông Bá, ông Hàn, và việc một công chức thuộc quyền quản lý của chính quyền Bảo hộ Pháp lại mang chức hàm của triều đình Huế, là một hiện tượng phổ biến trong xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Có ba con đường dẫn đến hiện tượng đó. Hoặc người đó được thưởng hư hàm, hoặc mua hư hàm, hay đối hàm.


Trong hai ông nghè mà Quế Chi nêu ra, tôi nghĩ ông Nghè Quế thuộc lọai được thưởng hư hàm, còn ông Nghè Đãi có thể thuộc lọai mua hư hàm. Hư hàm nghĩa là có chức, có danh nhưng không có thực quyền.


Ai đã có lần vào thăm bên trong lăng Khải Định, tức bên trong điện Khải Thành, chỗ thờ vua Khải Định, đều thấy trên nóc điện có một bức bích họa rồng mây rất đặc sắc. Đó là tác phẩm “Long vân khế hội”của nghệ nhân Phan Văn Tánh. Nhờ tác phẩm này, ông được thưởng hàm Cửu phẩm văn giai, và từ đó người ta gọi là ông Cửu Tánh. Đó là một hư hàm, chỉ để vinh danh, chứ ông Cửu Tánh không có dự trong quan trường.

Hễ một người dân nào đó có công lao đặc biệt, họ có thể được quan địa phương đề bạt để triều đình thưởng phẩm hàm, và đây là một lệ có từ lâu chứ không phải mới sau này. Tôi nghĩ rằng có thể bác Nghè Quế của Quế Chi, khi còn chế độ quân chủ ( trước 1945) là một thợ may khéo, từng may áo quần cho Hòang gia, và cấp trên hài lòng, nên được thưởng phẩm hàm. Đặc biệt, ông lại được thưởng hàm Hàn Lâm viện, chắc là Hàn lâm viện Đãi chiếu, trật tùng cửu phẩm (9/2), bậc thấp nhất trong quan trường. Hàm Hàn lâm vốn dành cho giới không văn hay để đỗ đạt thì cũng chữ tốt để được tuyển dụng vào làm thư ký để sao chép giấy tờ. Mà đã có hàm Hàn lâm thì được người ta rộng rãi gọi tâng lên là ông Nghè

Trong quan chế Nhà Nguyễn, có hàm Hàn Lâm Viện dành cho giới chữ nghĩa.

Thấp nhất là Hàn lâm viện Đãi chiếu, ở trật tùng cửu phẩm (9/2). Kế đến là Hàn lâm viện Cung phụng (9/1); Hàn lâm viện Điển bạ (8/2); Hàn lâm viện Điển tịch (8/1); Hàn lâm viện Kiểm thảo (7/2); Hàn lâm viện Biên tu (7/1); Hàn lâm viện Tu sọan (6/2); Hàn lâm viện Trước tác (6/1); Hàn Lâm viện Thị giảng (5/2), Hàn lâm viện Thừa chỉ (5/2); và cuối cùng, cao nhất là Hàn lâm viện Thị độc, ở trật chánh ngũ phẩm (5/1) , ngang hàng với Giám sát ngự sử và Đốc học các tỉnh, cao hơn Tri phủ một bậc.

Ban đầu, hàm Hàn Lâm Viện dùng trong việc bổ dụng những người xuất thân khoa bảng, hoặc những người có học, chữ tốt (thư thủ) được tuyển dụng làm thư ký. Chẳng hạn , đời Minh Mạng (1820-1841), đã bổ dụng người đỗ đầu Tiến sĩ làm Hàn lâm viện Tu sọan (6/2), người đỗ thứ ba làm Hàn lâm viện Biên tu (7/1), và cho người viết chữ tốt hạng Ưu làm Hàn lâm viện Cung phụng (9/1).

Nhưng từ đời Tự Đức trở về sau, nguyên tắc này trở thành lỏng lẻo, nhất là từ khi có việc tặng hư hàm cho những người có công quyên góp tiền bạc dùng vào quân phí hay chi phí xã hội.


Đầu tiên, lệ năm Tự Đức thứ 16 (1863) định rằng hễ ai có lòng từ thiện , quyên tiền hoặc lúa (qui ra tiền) cho nhà nước để giúp vào việc trợ cấp dân chúng trong lúc khẩn cấp vì thiên tai, dịch bệnh, thì sẽ được thưởng phẩm hàm. Qui định giá cả như sau:


Số tiền quyên góp

Phẩm hàm được thưởng

1,000 quan

Tùng cửu phẩm Bá hộ (9/2)

2,000 quan

Chánh cửu phẩm (9/1)

3,000 quan

Tùng bát phẩm (8/2)

4,000 quan

Chánh bát phẩm (8/1)

5,000 quan

Tùng thất phẩm (7/2)

6,000 quan

Chánh thất phẩm Thiên hộ(7/1)

7,000 quan

Tùng lục phẩm Thông phán (6/2)

8,000 quan

Chánh lục phẩm Chủ sự (6/1)

Vậy nếu có người chỉ có khả năng quyên dưới 1,000 quan thì sao? Đây là giá biểu:

Số tiền quyên góp

Quyền lợi được hưởng

900 quan

Miễn binh dịch, thuế thân và công ích trong 14 năm

800 quan

Miễn các khỏan trên trong 13 năm

700 quan

Miễn các khỏan trên trong 12 năm

600 quan

Miễn các khỏan trên trong 11 năm

500 quan

Miễn các khỏan trên trong 10 năm

400 quan

Miễn các khỏan trên trong 8 năm

300 quan

Miễn các khỏan trên trong 6 năm

200 quan

Miễn các khỏan trên trong 4 năm

100 quan

Miễn các khỏan trên trong 2 năm


Thế nhưng hai năm sau, năm Tự Đức thứ 18 (1865) vì quá cần tiền – do thua trận Pháp và Tây Ban Nha, phải bồi thường chiến phí -- giá biểu thấy sụt xuống để quyên được nhiều hơn . Giá căn bản là 800 quan (thay vì 1,000), hễ cứ thêm 1,000 quan thì được lên một trật. Đã thế lại còn mở rộng ra, hễ người ủng hộ có chút học thức hay võ nghệ thì có thể dự một kỳ sát hạch tại Bộ Lại (cho quan văn) hoặc Bộ Binh (cho quan võ) và nếu đậu thì sẽ được bổ dụng làm quan. Chưa hết, vua còn cho các quan có lỗi, bị cách chức hay giáng cấp được dùng tiền để chuộc lỗi, nghĩa là phục hồi chức vụ cũ. Đúng là cảnh mua quan bán tước. Có lẽ việc mở cửa này đã bị tràn ngập những hệ lụy xấu xa nên qua năm sau, Tự Đức thứ 19 (1866) vua ra lệnh chấm dứt việc đóng tiền làm quan hoặc nạp tiền để khôi phục phẩm hàm. Chỉ duy trì việc thưởng hư hàm cho người quyên góp mà thôi, và chỉ quyên góp khi cần, khi có lệnh, chứ địa phương không được tùy tiện mở ra. Hư hàm nghĩa là có chức mà không có thực quyền.

Năm Thành Thái thứ 1 (1889) định rằng ai quyên một ngàn quan trở lên, nếu là dân thường thì cho tùng cửu phẩm bá hộ, còn ai đã có dự thi cử, nghĩa là có chữ nghĩa, thì cho tùng cửu phẩm văn giai (hàm Hàn lâm thuộc văn giai). Cứ quyên hơn 1,200 quan thì gia thêm một bậc. Đối với những người quyên dưới số 1,000 quan thì cứ 60 quan sẽ được miễn binh dịch, thuế thân và công ích một năm.

Tiếng nói rằng “quyên” nhưng thực sự là việc mua phẩm hàm để có chút địa vị trong xã hội, nhất là ở chốn hương thôn. Trong làng xã, dù giàu có bạc vạn mà không có một chút chức vị gì thì vẫn bị coi thường. Họ bị xếp vào lọai bạch đinh, nghĩa là chân trắng, phải gánh vác mọi nghĩa vụ trong làng, và khi ra chốn đình trung phải đóng vai hầu hạ, điếu đóm cho lớp chức sắc “ăn trên, ngồi trước”. Bởi vậy, người ta phải cố chạy cho được một chút phẩm hàm để trở thành ông nọ ông kia, chứ không phải là anhthằng nữa. Những ông Cửu, ông Bá, ông Nghè , nếu không xuất thân bằng ngõ quan trường hay tưởng thưởng thì chính là hạng mua chức, mua hàm cả.

Đến cái việc đối hàm mới là độc đáo, mới thấy người Pháp khi đô hộ nước ta đã tỏ ra rất sành tâm lý dân Việt.

Đối hàm là nguyên tắc cho phép công chức thuộc ngạch Bảo hộ - nghĩa là công chức do chính quyền Bảo hộ quản trị, điều động và trả lương -- được xem là tương đương với phẩm hàm gì bên quan lại Nam triều để được vua Việt Nam ban cho phẩm hàm đó . Đứng về mặt quyền lợi, công chức ngạch Bảo hộ có lương bổng và phúc lợi cao hơn quan lại Nam triều rất nhiều, nhưng tại sao họ lại thích và cần đến cái phẩm hàm đầy vẻ phong kiến đó để làm gì?

Tôi đọc ở đâu đó có một “ông Tây” nói rằng trong đầu óc của mỗi người Việt Nam đều có một ông quan , nghĩa là hiếu danh. Dù làm việc cho Bảo hộ quyền lợi có cao hơn nhưng chức danh nghe không oai , không kêu, nếu không nói là có vẻ xa lạ với xóm làng sau lũy tre xanh. Ai có địa vị cũng muốn áo gấm về làng cả, mà làng xóm thì không quen, không trọng nễ ông Thông, ông Phán, ông Ký cho bằng quan Hường, quan Thị, quan Lang, do đó, quí vị công bộc ăn lương bảo hộ nhưng vẫn cần đến cái danh hảo mà vinh quang của triều đình. Biết được điều đó, nên để khích lệ tinh thần phục vụ của nhân viên, người Pháp thỏa thuận với Nam triều về biện pháp đối hàm như là một hình thức tưởng thưởng.

Lệ năm Thành Thái 19 (1907) định rằng những người Việt làm việc cho chính quyền Bảo hộ lúc đến tuổi về hưu, hoặc vì lý do gì đó muốn rời bỏ quan trường, có thể căn cứ vào mức lương bổng để cho phẩm hàm. Tiêu chuẩn đối hàm như sau:

Bảo hộ

Nam triều

Tham biện hạng nhất

Chánh tứ phẩm (4/1)

Tham biện hạng nhì

Tùng tứ phẩm (4/2)

Phán sự , Ký lục hạng nhất

Tùng ngũ phẩm (5/2)

Phán sự , Ký lục hạng nhì

Chánh lục phẩm (6/1)

Thông sự , Ký sự hạng nhất

Tùng lục phẩm (6/2)

Thông sự, Ký sự thí sai hạng nhất và nhì

Chánh cửu phẩm (9/1)

Thông sự, Ký sự thí sai hạng ba và tư

Tùng cửu phẩm (9/2)

Chánh tứ phẩm thì có thể được các hàm như Hồng (Hường) lô tự khanh, Lang trung, Thị độc học sĩ, từ đó có quan Hường, quan Thị, quan Lang.

Tùng tứ phẩm có thể được các hàm như Quang lộc tự thiếu khanh, Thị giảng học sĩ; Chánh ngũ phẩm thì có Hồng lô tự thiếu khanh, Hàn lâm viện Thị độc, Đốc học, Phó Quản đạo. Tùng ngũ có Hàn lâm viện Thị giảng, Tri phủ. Chánh lục phẩm có Đồng Tri phủ, Tri huyện. Đến như đẳng trật thấp nhất là tùng cửu phẩm cũng có hàm rất kêu là

Hàn lâm viện đãi chiếu để được gọi là ông Nghè.

Kèm theo cái bằng sắc [1] của triều đình còn có áo gấm bài ngà (nếu phẩm hàm cao), ra chốn đình trung trông vẫn oai hơn thầy ký hay ông Phán, ông Tham mặc đồ tây.


Việc đối hàm này, ban đầu chỉ giới hạn trong ngạch hành chánh khi nghỉ việc, nhưng sau mở rộng sang các ngành chuyên môn khác như công chánh, y tế, giáo dục, và vào bất cứ lúc nào đương sự bày tỏ nguyện vọng muốn được đối hàm. Bởi vậy một ông y tá hay một ông giáo về hưu, có thể có phẩm hàm đã đành, mà một ông Phán sự đang làm việc tại dinh Công sứ cũng có thể có phẩm hàm và bài ngà, nếu hợp lệ. Nam kỳ lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, không có chế độ đối hàm như ở Trung và Bắc kỳ, và mặc dầu đã thiết lập một hệ thống viên chức mới để giúp việc cai trị, họ vẫn chấp nhận cách gọi cũ, ít ra cũng trong thời gian đầu, như Tổng đốc ( Tổng đốc Phương, Tổng đốc Lộc), Phủ (Tôn Thọ Tường), Huyện (Huyện Của), vì biết dân Việt sính gọi như thế. Cụ Vương Hồng Sễn trong hồi ký Hơn nửa đời hư có kể chuyện ông Diệp Văn Cương, sau khi ra Huế giữ chức thông ngôn cho Tòa Khâm sứ Huế, có được phẩm hàm của triều đình, khi trở về Nam dạy học, vẫn thích học trò “bẩm quan” hơn là “thưa thầy”.

VÕ HƯƠNG-AN

[1] Quan cấp cao thì được vua ban sắc, cấp nhỏ như thất, cửu phẩm thị Bộ xét cấp bằng.