Thursday, March 5, 2009

Thành Cổ Loa có mấy vòng ?

Năm 257 trước Công nguyên (TCN), nước Âu Lạc được thành lập. An Dương Vương vừa định đô ở Cổ Loa đã bắt tay ngay vào việc xây đắp kinh thành. Lần đầu tiên trong lịch sử, người Âu Lạc xây được một tòa thành quy mô, có kiến trúc độc đáo. Thế nhưng việc xác định thành Cổ Loa nguyên thủy do An Dương Vương xây dựng hiện vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến.

Thành Cổ Loa đã được xây như thế nào?

Hiện tại, nhìn vào di tích Cổ Loa, ta thấy có ba vòng thành khép kín, trong cung (kiểm thành) thường được gọi là thành nội, ở giữa là thành trung (tường giữa) và thành ngoài (tường ngoài). Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6-12m, chân rộng từ 20-30m, chu vi 1.650m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy. Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500m, nơi cao nhất 10m, mặt thành rộng trung bình 10m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hoàng. Thành ngoài cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000m, cao trung bình 3-4m (có chỗ tới hơn 8m). Phía ngoài thành ngoài có hào bao bọc bốn phía. Riêng phía nam không đào hào vì đã có con sông Hoàng chảy ôm sát chân thành. Sở dĩ tường thành cổ quái như vậy là vì người xưa đã biết tận dụng triệt để những gò đất tự nhiên, đắp nối chúng lại để làm tường thành.

Tương tự như tường ngoài, tường giữa cũng được xây dựng theo cách đắp nối các gò đống tự nhiên thành một vòng tường không có hình dạng cụ thể, do vậy khoảng cách giữa hai vòng thành không đều nhau. Càng về phía nam hai vòng thành càng gần nhau, cuối cùng hai vòng nối liền với nhau, chừa một khoảng trống làm cửa thành (cửa Trấn Nam) - lối đi chính để vào thành.

Như vậy, gần 15.000m tường thành Cổ Loa có cùng một đặc điểm xây dựng là triệt để lợi dụng địa thế tự nhiên, đắp vòng nối với nhau nơi Trấn Nam môn, tạo thành một hình xoáy trôn ốc nên được gọi là Loa thành. Cách đắp này cổ kim, Ðông Tây chưa hề có!
Chính nhờ phương pháp đắp nối nên trong một thời gian rất ngắn, với nhân lực không đông, sử dụng công cụ bằng đồng, An Dương Vương Thục Phán đã xây dựng được một công trình đồ sộ hiếm thấy.
Phương pháp đào hào của dân Âu Lạc cũng có tính sáng tạo đáng kể. Ðất hào đắp lên tường vừa giải quyết vấn đề vật liệu, vừa tăng thêm một vòng chướng ngại. Người xưa đã đạt được thành công kép, giảm được phân nửa công sức và nhân đôi mức độ hiểm trở của tòa thành.

Vòng thành nào không do An Dương Vương xây?

Vòng thành trong cùng gọi là Kiển thành, lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng là vòng thứ ba của kinh thành Cổ Loa được An Dương Vương xây vào khoảng năm 257 TCN. Sự thực, qua nghiên cứu, chúng tôi đã đi đến kết luận: Kiển thành do tướng Mã Viện của nhà Hán xây sau khi đánh thắng Hai bà Trưng!

Về mặt kiến trúc, Kiển thành được đắp thành hình chữ nhật, chu vi 1.600m, mặt thành cao 10m. Thành chỉ mở một cửa ở chính giữa mặt tường phía nam và cũng có hào bao quanh. Ðáng chú ý là thành có đắp 12 hồi nhô ra ngoài rất cân xứng, mỗi mặt có chiều dài bốn hồi, chiều rộng bốn hồi.

Cả bình đồ kiến trúc, kỹ thuật xây dựng và những phát hiện khảo cổ học trong thành đều chứng minh rằng vòng thành này không phải là sản phẩm của thời An Dương Vương. Hỏa hồi (ụ đất) của Kiển thành theo lối thành Hán có rất nhiều ở phía bắc Trung Hoa. Hỏa hồi được đắp để ngăn chặn đối phương tiếp cận chân thành. Ðây cũng là di tích hỏa hồi đầu tiên ở Việt Nam.

Tạo một bình địa, gặp gò đống thì san bằng, gặp ao hồ thì san lấp rồi mới đắp tường thành để có tòa thành sắc cạnh là cách xây dựng của người Trung Hoa. Kiển thành cũng đã được làm như thế bởi đất Cổ Loa xưa không ít ao đầm. Các nhà khảo cổ học đã từng khai quật và phát hiện những hòn đá và cây chống lầy để đắp tường thành. Chúng tôi cũng đã tìm được một loại di chỉ có rất nhiều trong khu vực Kiển thành mà một thời giới nghiên cứu gọi một cách không thỏa đáng là "gốm Cổ Loa". Di chỉ này là những mảnh ngói ống, ngói bản, đinh ngói và đầu ngói ống. Thực ra, những vật liệu lợp nhà này là sản phẩm của người Hán. Người Việt không lợp nhà bằng loại ngói này.

Bên trong Kiển thành, chúng tôi còn tìm thấy những khuôn giếng bằng đất nung. Ðây cũng là những khuôn giếng quen thuộc của người Hán. Trong tiến trinh lịch sử văn hóa, người Việt đã tiếp thụ khá nhiều yếu tố văn hóa của Trung Hoa nhưng ngói ống lợp nhà, khuôn giếng đất nung vừa kể là những yếu tố người Việt đã từ chối tiếp nhận.
Khi tiến hành khai quật ở Kiển thành, chúng tôi đã đào được những ngôi mộ Hán xếp bằng gạch in chữ, có niên đại rất xa xưa như: Vĩnh Nguyên thập nhất niên trị (năm thứ 11, niên hiệu Vĩnh Nguyên - đời vua Hán Hòa Ðế - năm 99); Vĩnh Nguyên thập thất niên trung tự (năm thứ 17, niên hiệu Vĩnh Nguyên - đời vua Hán Hòa Ðế - năm 105) và Vĩnh Sơ ngũ niên trung trị đại hình chuyên (gạch cỡ lớn làm năm thứ 5, niên hiệu Vĩnh Sơ - đời vua Hán An Ðế - năm 111). Như vậy, những viên gạch này cho chúng ta biết thời gian người Hán sống, cai trị, xây nhà và được an táng ở đây.
Trong Ðại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã chép: "Mã Viện sau khi đánh bại Hai Bà Trưng đã chia huyện Tây Vu làm hai huyện là Phong Khê và Vọng Hải. ở Phong Khê đắp Kiển thành làm trị sở".
Kiển thành là thành hình con kén. Nhà sử học Ðào Duy Anh cho rằng Kiển thành là nhân địa điểm cũ mà xây lên. Những phát hiện khảo cổ học cũng chứng minh điều đó. Mã Viện đã chọn Cổ Loa làm trị sở, sửa sang hai bên vòng thành cũ của An Dương Vương làm cái "vỏ kén" để bảo vệ vòng thành trong là "con nhộng" của mình. Mã Viện đã chọn Cổ Loa để đắp Kiển thành vì địa thế vùng Phong Khê rất thuận lợi. 300 năm trước đó, An Dương Vương đã chọn nơi đây để đắp Loa Thành.

Như vậy, trên đất nước Âu Lạc, đã có một kinh thành Cổ Loa xây dựng vào thế kỷ thứ 3 TCN và một Kiển thành, trị sở huyện Phong Khê, xây vào thế kỷ thứ nhất. Vì vậy, việc phân biệt rạch ròi tòa thành xây dựng từ thời An Dương Vương với những công trình bổ sung của giai đoạn lịch sử về sau là điều cần thiệt

Còn một câu hỏi được nhiều người đặt ra là nếu Cổ Loa thời An Dương Vương chỉ có hai chứ không phải ba vòng thành như một số nhà nghiên cứu đã khẳng định trước đây thì liệu có nên đầu tư kinh phí để tôn tạo vòng thành trong cùng của Mã Viện? Theo tôi, điều quan trọng nhất là sự chính xác của tri thức lịch sử, còn việc tôn tạo chỉ nhằm giữ gìn vốn quý của lịch sử.

Giáo sư Ðỗ Văn Ninh

Một góc nhìn mới về thời đại Vua Trưng


Hình ảnh Hai Bà Trưng qua tranh dân gian

Thời Hai Bà Trưng, cư dân vùng đồng bằng sông Hồng vẫn còn theo chế độ mẫu hệ nếu không muốn nói là mẫu quyền. Khái niệm mẫu hệ và mẫu quyền có khác nhau nhưng phụ hệ và phụ quyền lại gần như là một. Chế độ mẫu hệ qui định những đứa con trong một gia đình mang họ mẹ, chỉ các con gái mới được giữ quyền thừa kế. Mẫu quyền thì đi xa hơn, quyền hành gia đình và xã hội nằm tất ở nữ giới, lãnh tụ phải là nữ giới. Do đó việc tồn tại các nam thủ lĩnh trong những bộ tộc Việt cổ không hề mâu thuẫn với nội dung mẫu hệ. Nội dung mẫu hệ này xuyên suốt trong hầu hết các văn bản huyền sử Việt Nam, mặc dù nó đã bị chế độ phụ hệ nối tiếp bóp méo, làm sai lạc đi khá nhiều.

Theo Thủy Kinh Chú, chồng bà Trưng Trắc tên Thi. Ông chẳng những không hề bị Tô Định sát hại, mà còn sát cánh bên phu nhân của mình trong cuộc nổi dậy năm 40 (có tài liệu ghi năm 39). Một tài liệu khác đã giải thích vì sao chồng Bà Trưng bị khai tử trong khi ông vẫn còn sống và cùng vợ khởi nghĩa. Đó là quyển The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh] của tác gia? Keith Weller Taylor do University of California Press ấn hành năm 1983. Trong sách nầy, tác giả Taylor cho rằng do thành kiến phụ quyền, các nhà viết sử người Việt của những thế kỷ sau không thể chấp nhận chuyện một người phụ nữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và trở thành nữ vương trong khi ông chồng vẫn còn sống nên họ đã viết rằng Tô Định đã giết chồng Bà Trưng. Trong khi đó, cũng theo Taylor, những tài liệu Trung Hoa cho thấy rõ rằng ông Thi đã theo Bà Trưng khởi nghĩa. (K.W.Taylor,sđd.tt.38-39).

Khi Mã Viện, theo lệnh Quang Vũ đế nhà Hán, đem quân nghiêng nước sang Lĩnh Nam, lực lượng qúa chênh lệch, lực lượng kháng chiến phải rút lui vào Kim Khê, ba năm sau mới bị bắt. Dân gian thì truyền tụng Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở Hát giang. Có giả thuyết Hai Bà sau đó bị Mã Viện bắt và chém đầu rồi đem thủ cấp về Thiên triều báo công, cho nên trong đền thờ Hai Bà ở Hát Môn có tục kiêng màu đỏ. Hậu Hán Thư chép bà Trưng Trắc bị xử trảm. Ở đây có nhiều câu hỏi được đặt ra: Tại sao sử gia phong kiến Việt Nam lại mượn tay Tô Định khai tử ông Thi?

Ý kiến phổ thông của đa số học giả trong thế kỷ 20 cho rằng các nhà Nho, khi viết sử phải “giết” ông Thi (Đặng Thi Sách), vì nếu ông còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ… thánh hiền Khổng – Mạnh! Mặc dù họ cùng thống nhất cư dân Việt cổ hình như theo chế độ mẫu hệ. Triều đại Vua Trưng có thuộc tướng phái nữ rất nhiều, có sách chép tới 162 vị nữ tướng. (ngành viết sử của nước ta chỉ bắt đầu vào thế kỷ 13, nên những đoạn sử trước đó, người xưa đều sử dụng tài liệu Trung Hoa).

Việc ông Thi có bị ai ám hại hay không? Vai trò của ông trong cuộc nổi dậy thế nào? Cũng cần được xem xét một cách thoả đáng. Ông xuất thân là con Lạc tướng Châu Diên, rất “môn đăng hộ đối” với Trưng Trắc, chứ không phải một anh lực điền tứ cố vô thân được gia chủ nuôi và gửi gắm con gái rượu (theo quan điểm phụ hệ sau này). Không có ông bên cạnh Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định, sẽ không ai thắc mắc khi lấy vợ ông đi ở rể hay rước dâu về. Nếu lúc ấy người Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ, Trưng Trắc phải về nhà chồng. Và nếu hưng binh tất bà sẽ chọn Chu Diên, quê chồng chứ không phải Mê Linh, quê bà.

Trên thực tế, vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất, thậm chí Trưng Nhị còn có thể thừa kế cả anh rể mình nữa, điều này hoàn toàn không có gì xa lạ với nhiều bộ tộc còn chậm tiến trên thế giới ở thế kỷ 20 vừa qua. Có thể lấy chuyện hôn nhân của Mỵ Châu và Trọng Thủy trước đó hơn 200 năm làm một điểm tựa. Hình ảnh truyền thuyết An Dương Vương cưỡi ngựa mang Mỵ châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa, cũng mơ hồ cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như một “thái tử” trong cơn nguy cấp.

Bản Đồ Thời Lĩnh Nam

Năm 111 TCN Lộ Bác Đức diệt Nam Việt, kết thúc gần 100 năm vương triều của họ Triệu. Tượng quận, vùng đất chưa bị xâm lăng, một tên gọi tượng trưng mang tính khái niệm theo cách của nhà Tần (nó tương đương với Giao Chỉ của nhà Chu) bắt đầu được Hán Vũ Đế mở mang. Chín quận mới liệt kê ở Hán Thư là Đạm Nhĩ, Chu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam tiếp tục là khái niệm, thứ khái niệm nói lên tính tự cao, tự đại, lòng tham và chủ nghĩa bành trướng của nhà Hán.

Hán triều cử sứ đoàn do Tô Định cầm đầu xuống đồng bằng sông Hồng để bình định nhằm Hán hoá xứ Giao Châu. Nhiệm vụ của tân thái thú chắc chắn là phải xây dựng bộ máy bóc lột nhằm biến quận Giao Chỉ thành miếng bánh ngon giữa bàn tiệc thực dân, chứ không thể mãi mãi là mảnh đất ảo trang trí trên bản đồ đại Hán. Tô Định đã áp đặt một chế độ hà khắc nhân danh Thiên Tử (con trời) và áp Hán luật vào đời sống nhân dân sở tại. Không còn những hành động khoan hòa mỵ dân vờ vĩnh kiểu Tích Quang, Nhâm Diên, các bậc tiền nhiệm nữa. Tô Định đã áp đặt mạnh mẽ chế độ cai tri. của Trung Hoa theo chính sách đồng hóa của nhà Hán (Hậu Hán Thư- 202, trước CN-220). Tự do của người bản xứ đã bị xâm hại nghiêm trọng. Trưng Trắc, vị thủ lĩnh tự trị của vùng đất kề cận nơi Tô Định đặt bản doanh chịu sức ép thực dân nhiều nhất đã đứng lên hiệu triệu các thủ lĩnh khác cùng đoàn kết đánh đuổi thù chung. Như vậy, Hai Bà Trưng đã khởi nghĩa vì ý chí độc lâp của dân tộc Việt cổ. Lý do nầy rất cao cả, chính đáng, và mạnh mẽ. Phải chăng khi nghĩ rằng việc bị pháp luật ràng buộc không đủ mạnh nên các sử gia chính thống ngày trước phải thêm chuyện thù chồng để việc nổi dậy thêm phần ý nghĩa. Nói cho cùng chuyện thù chồng chỉ là chuyện cá nhân của mỗi người, chứ không phải là đại nghĩa của đất nước; huống gì ở đây chồng bà Trắc còn sống và cả hai cùng nổi dậy. Cũng chính vì thêm việc thù chồng nên các tác giả của các bộ sử trên đây biên chép kết quả cuộc khởi nghĩa không rõ ràng.

Hai Bà Trưng nổi trống đồng khởi nghĩa năm 40, dân Việt đồng tình hưởng ứng khắp nơi, thanh thế rất lớn. Tô Định, với một đội quân cai trị mỏng, không địch lại được phải chuồn thẳng về Nam Hải (tức Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) mà không hề có một trận chiến ra trò nào để sử sách hoặc dân gian truyền lại. Chi tiết này thêm một lần nữa xác tín bối cảnh được xây dựng ở trên là hợp lý.

Cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà Trưng nhanh chóng thành công. Điều này là tiền đề thuận lợi cho Hai Bà tập hợp được thêm nhiều lực lượng ủng hộ, tiến tới xưng vương rồi đóng đô tại Mê Linh.

Mùa xuân năm 42 Mã Viện mang theo hàng trăm ngàn quân thiện chiến sang bình định Giao Chỉ. Bằng kinh nghiệm lọc lõi của một tên tướng lão luyện, Mã Viện kiên nhẫn đóng quân tại Lãng Bạc. Cuộc chinh phạt của Mã Viện còn có sự tiếp tay rất đắc lực của các thế lực nội phản nữa. Trong đó lực lượng rất quan trọng lại là các cao thủ bậc nhất võ lâm phái Tản Viên, ly khai, cùng bản môn của chồng Trưng Trắc. Lưỡng đầu thọ địch, mặc dù trận Lãng Bạc thắng lớn nhưng lực lượng của Hai Bà bị chia nhỏ trên một chiến trường quá rộng lớn. Nên Mê Linh bị thất thủ rồi thì Cẩm Khê di hận cũng là lẽ đương nhiên. Tháng giêng năm 43 Mã Viện đã bắt được Hai Bà Trưng. Tàn quân Việt chiến đấu được vài năm nữa mới tan rã. Dân gian Việt Nam có hai ngày giỗ Hai Bà Trưng là 6.2.43 và 8.3.43 (năm Quý Mão, âm lịch), có lẽ ngày đầu là ngày Hai Bà Trưng bị bắt và ngày sau là ngày họ bị hành hình. Có sách còn mô tả, hai bà bị hàng trăm mũi tên của quân nội phản trong một nỗ lực tuyệt vọng khi đang chơi vơi giữa dòng sông. Ở đây xuất hiện hai khả năng: Một là Mã Viện giữ Hai Bà để dụ hàng nhằm kêu gọi nhóm nghĩa quân chưa buông vũ khí ra trình diện. Hai là Mã Viện thuyết phục Hai Bà kêu gọi nhân dân thuần phục nhà Hán và chấp nhận luật pháp Hán. Dù sao ta cũng biết chắc một điều Hai Bà Trưng đã không chịu thỏa hiệp dù phải bỏ mình.

Hình ảnh gieo mình xuống sông Hát có vẻ vừa hào hùng, vừa lãng mạn dễ trở thành đề tài cho thi ca nhạc kịch, và dễ được lan truyền trong trí tưởng tượng của quần chúng hơn là hình ảnh thân gái hy sinh nơi chiến trường, bị bắt chặt đầu một cách rùng rợn rồi gởi về Trung Hoa. Với tinh thần của một người ngoại cuộc, tác giả Keith Weller Taylor viết thẳng thừng rằng: "Mã Viện tiến đến Mê Linh, và vào cuối năm [42] đã bắt được Trưng Trắc cùng em là Nhị; vào tháng giêng năm sau, đầu của hai chị em được gởI về triều đình nhà Hán ở Lạc Dương."(The Birth of Vietnam, tr. 40.).

Hai Bà Trưng là trường hợp người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống lại quân ngoại xâm giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là một sự hy sinh vĩ đại của một bậc nữ lưu mà cổ kim đông tây không thấy có, và đời đời dân tộc Việt tưởng nhớ ghi ơn. Khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng, vua Tự Đức đã ngự phê: "Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm du! "

Xin tạm che giấu cảm tính dân tộc và tinh thần quốc gia, những khái niệm còn mờ nhạt ở thời Hai Bà Trưng, để đứng trên bình diện văn minh mà dè dặt nói: Kết cục cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện có thể tiên liệu trước, chế độ thị tộc mẫu hệ, hay ít ra là tàn dư của nó phải bị khuất phục trước một mô hình xã hội phát triển hơn, vững chãi hơn. Sự thật là Hai Bà Trưng đã phải đương đầu với Mã Viện, đại diện cho một chế độ phong kiến phương bắc hùng mạnh, có chiều dài nhiều trăm năm năm cai trị Trung Nguyên, lại được một lực lượng trong nội bộ dân tộc ly khai mãi quốc cầu vinh… Làm nên nguyên nhân thất bại có tính tất yếu của Hai Bà rất khó được chấp nhận đối với hầu hết người Việt Nam, không phân biệt trình độ nhận thức.

Người Lạc Việt cổ bắt đầu gần một thiên niên kỷ lưu vong từ chiếc nôi Động Đình Hồ, từ châu Kinh, Tương (dân tộc Kinh, chiếm đa số cho tới nay ở VN), bên bờ Trường Giang khi văn minh Hoa Hạ nam tiến và nước Sở được hình thành. Đến Trưng Trắc thì sức người có hạn, văn minh vật chất sơ sài trong khi sơn đã tận mà thủy thì mênh mông, đa số họ bắt buộc phải dừng lại, nhẫn nhục chấp nhận thêm tám trăm năm nô lệ nghiệt ngã.

Tự đặt mình vào bối cảnh năm 40 sau Công Nguyên, nhiều ý kiến bỗng thấy hình ảnh sáo mòn Hai Bà Trưng “phất cờ khởi nghĩa” có vẻ không hợp lý. Nên chăng hãy hình dung những hồi trống đồng liên hoàn dưới các nếp nhà sàn hiền hòa, thôn nối thôn, làng tiếp làng, thị tộc này kêu gọi thị tộc khác cùng đoàn kết trong âm vang tự do dưới sự lãnh đạo của Trưng Trắc tiến thẳng về Long Biên, quét sạch bắc quân xâm lược.

Hai Bà Trưng ra đi khép lại thuở bán khai trên đất mảnh đất tiền Việt Nam. Thời điểm này chính là cảnh hoàng hôn rực rỡ sắc màu trước đêm dài nô lệ. Người Việt biết chấp nhận nỗi nhục thiếu tự do để học hỏi, tự hoàn thiện mình. Thỉnh thoảng một vài ngọn đuốc lại bừng sáng mang nhiều cái tên anh hùng như Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan hay Phùng Hưng. Đáng kể là hơn nửa thế kỷ độc lập của Lý Nam Đế cùng các phụ triều trong giấc mơ Vạn Xuân đầy hiện thực. Đó là những bước tiến vững chắc, không thể phủ nhận của con người và đất nước thời khởi sử, làm đòn bẩy cho kỷ nguyên tự chủ bắt đầu với Khúc Thừa Dụ năm 905. Tám trăm năm tròn bắc thuộc là cái giá quá đắt nhưng không hề vô nghĩa. Dân tộc Việt Nam, văn minh Việt Nam hình thành trong gian khó và thử thách đã lớn mạnh vượt bậc. Từ đó về sau phong kiến phương bắc không lần nào hoàn toàn khống chế được họ nữa.

Nếu không kể đến An Nam Chí Lược (1335) của một kẻ bán nước, từ quyển hiến sử đầu tiên còn lưu lại đến ngày này là Đại Việt Sử lược (1377 – 1388), sử gia Việt Nam vừa xem sách Tàu, vừa chấm bút lông vào nước lã để viết về ông Thi. Thậm chí họ còn sơ ý nhầm tên chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách! Năm tháng qua đi, sách sử nối nhau ra đời, Bà Trưng Trắc vẫn phải làm một quả phụ bất đắc dĩ, gồng gánh thêm bao nhiêu khái niệm không cùng thời với bà. Lối tư duy suy diễn chủ quan, nô lệ Khổng nho và kinh viện, kết hợp với truyền thống tạo dựng chính sử thiên kiến và không tôn trọng sự thật một cách có hệ thống, vô hình chung đã tô son trát phấn lên bà mẹ chân đất được Thủy Kinh Chú mô tả là “vi nhân hữu đảm dũng”. Kết quả là người mẹ vĩ đại của họ chẳng đẹp hơn tí nào. Nó chỉ khiến người đời chạnh buồn cho những đứa con vụng về, xốc nổi và đồng bóng của bà.

Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tập hợp lực lượng và tuyên chiến với Tô Định tại Mê Linh, với sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ mình là bà Man Thiện. Thành công, Trưng Trắc xưng vương và đóng đô cũng tại Mê Linh, nơi chôn nhau cắt rốn của bà. Giả sử Hai Bà Trưng không có em trai. Khi chồng chết, Trưng Trắc (lúc này đang ở bên chồng) về lại quê cùng giữ quyền thế tập với em gái, rồi “Hận người tham bạo, thù chồng chẳng quên… phất cờ khởi nghĩa”. Chuỗi luận thật tròn trịa, dễ ru ngủ người đời. Thật sự nó đã ru biết bao thế hệ người Việt ngủ ngon hằng ngàn năm.

Diễn hành kỷ niệm Hai Bà Trưng ở Sài Gòn giữa thế kỷ 20

Mảnh đất hình chữ S có tên Việt Nam ngày nay hiện hữu khoảng 200 đền thờ Hai Bà Trưng. Đó là tuyên bố rõ ràng nhất về vai trò lớn lao của Hai Bà trên non sông này. Mọi lý thuyết học thuật cổ kim đều không thể phủ nhận bản chất anh hùng và tinh thần bất khuất của Hai Bà Trưng, vị Vua Bà đầu tiên và cuối cùng của mảnh đất Việt Nam, người mẹ đáng kính của lịch sử Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Tài Liu tham kho:

* Phạm Việp, Hậu Hán thư, quyển 54, Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại học Huế, 1965

* Đại Việt sử ký toàn thư, viết tắt là Toàn thư, và bộ Việt sử thông giám cương mục, viết tắt là Cương mục, xin xem bài 1

* Việt sử thông giám cương mục, dụ chỉ tr. 9, bản dịch ban Nghiên cứu Văn Sư? Địa, Hà-Nội 1957

* Ngô Thời Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt-Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Văn Sử tái bản, San Jose 1991

* Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, dụ chỉ tr. 9, bản dịch ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội 1957

* Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch của Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992

* Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Nxb. Bộ Giáo Dục, Sài Gòn 1960, in lần thứ 7

* Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983

* Tiếng trống đồng Mê Linh - Trương Thái Du, Đà Lạt, tháng Tư 2005

* Hai Bà Trưng - Trần Gia Phụng, Canada

Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com/vanph_vanpham

Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng...

… Khi đó nước triều còn cao, che lấp những dãy cọc đóng trong lòng sông. Quân Trần đem thuyền ra khiêu chiến rồi giả thua tháo chạy. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thừa thắng dẫn binh thuyền đuổi theo. Nước triều xuống thấp, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi xô phải cọc, dồn ứ cả lại, nhiều chiếc bị cọc đâm chìm. Chỉ chờ có vậy, phục binh của ta ở hai bên bờ đổ ra, đánh thẳng vào mạng sườn và phía sau đoàn thuyền địch. Nguyễn Khoái đem quân dũng nghĩa Thánh Dực đến giao chiến với giặc. Tiếp đó, hai vua Trần và Hưng Đạo Vương cũng dẫn đại quân đến. Một trận kịch chiến ác liệt xảy ra trên sông Bạch Đằng.

“… Bấy giờ
Muôn dặm thuyền bè, tình kỳ phấp phới
Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói
Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
Trời đất rung rinh
chừ sắp tan
Nhật nguyệt u ám chừ mới tối…”
(Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu)

Ô Mã Nhi Bạt Đô, tên tướng tàn ác mang danh hiệu “Dũng sỹ” ấy, không thể nào chống cự nổi sức tấn công mãnh liệt của quân ta. Tuy Phàn Tiếp đã cố gắng “chiếm lấy núi cao làm ứng,” tình thế vẫn không thể xoay chuyển khác được. Dưới trận mưa tên của quân Đại Việt, thủy binh giặc chết rất nhiều. Máu đỏ ngầu cả khúc sông. Nước triều rút ngày càng gấp, chiến thuyền giặc vướng cọc, bị phá hủy ngày càng nhiều. Đến chiều, toàn bộ chu sư của Ô Mã Nhi đều bị tiêu diệt. Viên vạn hộ thủy quân Trương Ngọc tử trận. Phàn Tiếp bị trọng thương, nhảy xuống sông, bị quân ta lấy câu liêm móc lên bắt sống. Bản thân tên tướng chỉ huy Ô Mã Nhi cũng phải chịu trói. Thủy quân giặc bị giết, chết đuối, và bị bắt vô số kể. Hơn bốn trăm thuyền giặc lọt vào tay quân ta…(Trích “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông – Thế kỷ XIII” của NXB Quân Đội Nhân Dân)

Trên đường từ Hải Phòng đến Quảng Yên (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh), tôi có đi qua con sông Đá Bạc, nơi thượng nguồn của dòng Bạch Đằng Giang. Lòng sông khá rộng, tuy nhiên ở phía hạ nguồn, tôi thấy có hẳn một vịnh Hạ Lọng thu nhỏ với rất nhiều núi đá nhấp nhô ở hai bên bờ. Hồi còn học phổ thông, tôi đã được dạy rằng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3, thủy quân Đại Việt đã dựa vào thế núi hiểm trở đó để mai phục và khiêu khích địch, khiến chúng điên cuồng rồi tự chui vào trận địa bày sẵn của Hưng Đạo Đại Vương vào đúng thời điểm cần thiết.

Mặc dù đã đọc rất nhiều tài liệu lịch sử liên quan đến trận đánh vào mùa xuân năm 1288 này, tuy nhiên phải đến khi có mặt tại hiện trường, tôi mới có được những hình dung cụ thể và sinh động về nó. Theo suy luận của tôi, từ Đá Bạc, theo đường sông Chanh ra biển Quảng Ninh sẽ gần hơn theo sông Bạch Đằng ra biển Hải Phòng rất nhiều. Trong thế túng thiếu về lương thực (hậu quả của trận Vân Đồn), địch chắc hẳn sẽ muốn rút ra biển càng nhanh càng tốt. Hiểu được tình hình này, Trần Hưng Đạo đã cho đóng cọc vắt ngang dòng sông Chanh và cho quân mai phục sẵn để đón địch ở phía hạ nguồn. Tôi không tin một thiên tài quân sự như Trần Hưng Đạo lại chỉ có duy nhất một phương án A, vậy nên rất có thể ông cũng đồng thời bố trí một lực lượng đủ mạnh ở phía cửa biển Bạch Đằng để gây sức ép buộc quân giặc phải đi theo thủy trình mà quân ta đã định sẵn. Đội quân này còn có nhiệm vụ bịt đường thoái lui một khi đoàn thuyền địch lọt vào trận địa. Với một thế trận bao vây trước sau như vậy, quân Đại Việt hoàn toàn có thể kìm chân đoàn quân Nguyên Mông đông đảo để chờ khi nước rút mới tung ra đòn kết liễu.


Hai địa điểm cắm cọc đã được phát hiện (dấu x)


Sông Chanh, nơi đã diễn ra trận Bạch Đằng lịch sử

Cho đến nay, các nhà khảo cổ đã khai quật được hai bãi cọc nằm ở hai bên bờ sông Chanh, gần ngã ba với sông Bạch Đằng. Bãi thứ nhất thuộc xã Yên Giang (cách Quảng Yên 2 km) được phát hiện và khai quật từ năm 1953. Với tầm vóc lịch sử của chiến thắng Bạch Đằng, không có gì ngạc nhiên khi nó được công nhận là di tích cấp quốc gia. Tôi chỉ ngạc nhiên khi thấy bãi cọc này nhận được quá ít sự quan tâm. Giờ đây nó chỉ còn là một hố khai quật ngập nước được bao kè xung quanh, bên trong còn khoảng hơn mười thân cọc. Được biết tại khu vực này, các nhà khảo cổ đã đào được hơn 300 cọc gỗ. Số này sau đó đã được phân chia cho các viện nghiên cứu và bảo tàng khắp cả nước. Tôi cũng đã vượt sông Chanh để tìm về cánh đồng Vạn Muối thuộc xã Nam Hòa. Tuy nhiên bãi cọc ở đây đã được lấp lại với mục đích bảo quản hiện vật. Tôi mong nhà nước, các cơ quan liên quan và tất cả người dân hãy dành cho dấu tích này nhiều quan tâm hơn để xứng với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó.


Hôm nay, mùng 8 tháng 3 âm lịch, chiến thắng Bạch Đằng tròn 719 năm tuổi. Trận đại chiến này xứng đáng được liệt vào một trong những trận đánh lớn và độc đáo nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Một đội quân non trẻ đã biết tận dụng thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa để giành thắng lợi vẻ vang trước một đối thủ dày dạn kinh nghiệm trận mạc và có quân số lớn hơn rất nhiều, qua đó khẳng định tài cầm quân của Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn và nghệ thuật quân sự của cả dân tộc Việt.

(Trích từ Blog Viettory)


Trần Thủ Độ : Công và tội

Có hai hình mẫu anh hùng: hình mẫu thứ nhất do thời thế tạo ra, hình mẫu thứ hai đích thân tạo ra thời thế. Lịch sử Việt Nam với chiều dài hàng ngàn năm đầy biến cố và thăng trầm đã sản sinh ra biết bao anh hùng kiệt xuất. Nhiều vị trong số đó được cả thế giới ghi nhận và tôn vinh. Thế nhưng không phải ai cũng hội tụ được cả 2 phẩm chất anh hùng như Trần Thủ Độ. Ông đã kiến tạo nên nhà Trần, một triều đại phong kiến hào hùng và thịnh trị. Thời buổi giặc dã, loạn lạc, cũng chính ông đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh đuổi quân Mông xâm lược. Mặc dù là nguồn cảm hứng để nhà Trần viết nên một trong những trang sử chói lọi nhất của dân tộc, thế nhưng lịch sử vẫn tỏ ra rạch ròi với ông giữa công và tội. Chính vì vậy ông không thể có một tượng đài sừng sững như Quốc Công Tiết Chế - Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, cũng như sự vắng mặt của cái tên Trần Thủ Độ trong số vô vàn con phố ở cả trong và ngoài Việt Nam

Đối chiếu tất cả những trang viết về ông trong sử sách, ai cũng có thể thấy Thủ Độ đã làm tất cả vì sự nghiệp của nhà Trần, cho dù đó có thể là những nước cờ xuất chúng hay những thủ đoạn tàn bạo nhất. Người Á Đông luôn gắn mỗi cuộc đời với một số mệnh đã được sắp đặt từ trước. Với trường hợp của Trần Thủ Độ, một người có gốc gác ngư dân, ít học, thì có vẻ như số mệnh đã đặt lên vai ông một gánh nặng quá lớn: lật đổ triều đại nhà Lý để gây dựng cơ đồ nhà Trần.

Thời kỳ của vua Lý Cao Tông (1175 - 1210) đánh dấu sự suy thoái, mục ruỗng trầm trọng của triều đình: vua tôi, quan lại chỉ lo hưởng lạc mà bỏ bê việc nước, để mặc dân chúng mất mùa, đói kém. Bấy giờ trên toàn Đại Việt đã bắt đầu xuất hiện những thế lực địa phương nắm trong tay công cụ bạo lực riêng. Nạn cướp bóc, nổi dậy nổ ra thường xuyên. Cùng thời gian đó nhà họ Trần sau một thời gian sinh sống bằng nghề đánh cá, buôn bán cũng đã đủ mạnh để thành lập một lực lượng riêng, cát cứ tại vùng Tức Mặc (Nam Định ngày nay).

Trong lần chạy loạn khỏi một cuộc phiến loạn ở triều đình, thái tử Sảm (con vua Cao Tông) đã được nhà Trần cưu mang và dậy binh hộ tống về lại triều đình. Thái tử đồng thời còn được gả cho người con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung. Vua Lý Cao Tông qua đời, thái tử Sảm nối ngôi. Dựa vào những công lao đã gây dựng được với vua mới, nhà Trần bắt đầu mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị của mình với việc Trần Thủ Độ vào triều nhậm chức Điện tiền chỉ huy sứ. Tân vương Lý Huệ Tông (Thái tử Sảm) vẫn quen thói chơi bời, bỏ bê triều chính, đã tạo cơ hội để Trần Thủ Độ thể hiện năng lực điều hành đất nước và đi những nước cuối cùng trong ván cờ lật đổ nhà Lý của mình: ông lo dẹp yên các cuộc nổi dậy của các thế lực cát cứ, chống lại sự nhòm ngó của giặc ngoại xâm (bấy giờ là Chiêm Thành), đồng thời không quên bổ sung, củng cố quyền lực của người họ Trần trong triều đình. Vua Huệ Tông không có con trai nối dõi, lại ngày càng trở nên bệnh hoạn, nên đến năm 1224 đã truyền ngôi cho con gái mình là Lý Phật Kim (Lý Chiêu Hoàng) bấy giờ mới 7 tuổi. Ngay lập tức Trần Thủ Độ đã đưa cháu trai mình là Trần Cảnh vào triều để “kết bạn” với Chiêu Hoàng. Rồi chẳng lâu sau lấy Chiêu Hoàng làm vợ. Cuộc chính biến trong mơ đã kết thúc với việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, khi đó Trần Cảnh mới 8 tuổi. Trần Thủ Độ được phong làm Thống quốc Thái sư, thay mặt vua điều hành đất nước.

Như vậy ngai vàng đã về tay nhà Trần một cách êm thuận. Đó không chỉ là mong muốn của dòng họ Trần, mà với những thành tựu về tôn giáo, kinh tế, văn hoá cũng như những chiến công mà triều đại này đã gây dựng được cho Đại Việt, thì đây còn là một sự nối tiếp cần thiết của Lịch sử. Có được ngôi báu đơn giản như vậy, thế nhưng nhà Trần lại lên lãnh đạo đất nước trong một giai đoạn vô cùng khó khăn: triều đình non trẻ với vô vàn công việc phải làm, hoàng hậu không có con nối dõi, tư tưởng phục Lý vẫn cháy âm ỷ trong khi những lực lượng cát cứ khác liên tục dậy binh chống phá, giặc Thát Đát cũng đã bắt đầu có dấu hiệu sẽ tràn vào Đại Việt bất cứ lúc nào… Lửa thử vàng, gian nan thử sức, đây chính là thời điểm thích hợp nhất để Trần Thủ Độ thể hiện hết bản lĩnh hổ của mình (ông sinh năm Giáp Dần - 1194).

Sau 12 năm chung sống, hoàng hậu Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) vẫn không thể có con cùng vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Ý thức hơn ai hết về nguy cơ không có người nối dõi của hoàng tộc, Thái sư Trần Thủ Độ đã không ngần ngại phế truất ngôi hậu của Chiêu Thánh, bất chấp sự phản đối của vua. Sau đó ông ép gả chị gái của Chiêu Thánh là Thuận Thiên công chúa cho Thái Tông. Cần phải nói thêm rằng Thuận Thiên lúc bấy giờ đã là vợ của Trần Liễu (anh cả của vua), đã có một mặt con và đang có mang ba tháng. Mặc dù hành động táo bạo này đã vượt quá xa khỏi mọi chuẩn mực về đạo đức, thế nhưng là một người đầy mưu lược, Thủ Độ cũng có cái lý riêng của mình: ngoài khả năng sinh nở đã nhãn tiền, Thuận Thiên còn là công chúa cả của Lý Huệ Tông. Xét về vai vế dòng tộc, Thuận Thiên ngang hàng với Chiêu Thánh, chính vì thế việc Thủ Độ nhất định đưa Thuận Thiên lên ngôi hậu đã thể hiện mong muốn duy trì sự chính danh trong việc nhà Trần thừa kế ngôi vua của nhà Lý, để qua đó không thổi bùng lên ngọn lửa phục Lý vốn vẫn đang âm ỷ trong hoàn cảnh chuyển giao đầy nhạy cảm này.

Tuy nhiên hành động trắng trợn đó của Trần Thủ Độ lại thổi bùng lên một ngọn lửa khác cũng đã âm ỷ từ lâu: Trần Liễu vốn đã luôn xem việc Trần Cảnh lên ngôi là bất công, vì theo ông ngai vàng phải thuộc về chi cả. Nhân sự kiện bị cướp mất vợ, Trần Liễu đã dấy binh tuyên chiến với triều đình. Trong muôn vàn khó khăn, nhà Trần lại phải đối mặt thêm với một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Mặc dù đã dẹp tan được cuộc phiến loạn, nhưng Trần Thủ Độ không thể làm gì để giải quyết được mâu thuẫn giữa chi cả của Trần Liễu và chi thứ của Trần Cảnh. Thật may mắn cho nhà Trần và cho cả Đại Việt, chính mâu thuẫn tưởng như không gì có thể giải quyết đó lại nuôi dưỡng nên vị anh hùng của cả dân tộc: Trần Hưng Đạo, người đã đóng vai trò quan trọng trong cả ba chiến thắng oanh liệt trước quân xâm lược Mông Cổ sau này.

Tiếp quản ngai vàng từ tay họ Lý, nhà Trần đồng thời cũng phải tiếp quản luôn những trung thần, nghĩa sỹ và cả những ảnh hưởng nặng nề của chế độ cũ. Quả thật không thể thay đổi triệt để cả một thể chế chính trị đã kéo dài trong suốt hơn 200 năm chỉ trong một sớm một chiều. Bấy giờ đa phần những người trung thành với nhà Lý đều không tâm phục việc nhà Trần nối ngôi, có lẽ họ chỉ coi sự kiện đó là kết quả của thủ đoạn buôn vua, bán chúa của họ Trần. Để đối phó với làn sóng chống đối này, Thủ Độ đã áp dụng biện pháp chuyên chính mạnh tay nhất: tiễu trừ họ Lý bằng mọi cách, từ giết chóc đến ép phải cải họ. Điển hình nhất có lẽ sự kiện Huệ Tông (lúc này đã rời ngôi đi tu) treo cổ tự vẫn. Đến nay, nhiều tài liệu vẫn cho rằng chính Trần Thủ Độ đã bức tử Huệ Tông. Lịch sử thậm chí còn ghi lại một câu chuyện hết sức ly kỳ: trong lễ giỗ đầu của vua Huệ Tông, Thủ Độ đã lập mưu chôn sống gần như toàn bộ gia quyến của họ Lý. Cho dù sử gia Ngô Sỹ Liên (một người không hề có ý định che giấu thành kiến với nhà Trần) đã bày tỏ nghi ngờ về tính thực hư của câu chuyện, nhưng vẫn phải thừa nhận rằng Thủ Độ đã ra tay quá tàn bạo. Ảnh huởng của nó đã để lại dư âm đến tận ngày hôm nay với bằng chứng có quá ít người mang họ Lý ở Việt Nam. Đó rõ ràng là một điều không hề bình thường, bởi lẽ họ Lý sau hơn 200 năm trị vì đã từng là một trong những dòng họ lớn nhất nước. Bạn anh tôi, kiến trúc sư Lại Thế Lĩnh đã nói tổ tiên của anh (vốn mang họ Lý) chính là nạn nhân của vụ thảm sát do Thủ Độ chủ mưu và dòng họ Lại ở Việt Nam cũng ra đời ngay sau sự kiện đó. Tàn bạo là vậy, tuy nhiên biện pháp vô tiền khoáng hậu này cũng cho thấy một cá tính vô cùng đặc biệt của Trần Thủ Độ, nó đã vượt xa chuẩn mực tính cách có phần ôn hoà của con người Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra một chút, chúng ta đều thấy cả Tần Thuỷ Hoàng lẫn Thành Cát Tư Hãn với khá nhiều nét tính cách tương đồng với Thủ Độ đều đã xây dựng được những đế chế hùng mạnh cho mình, vậy phải chăng đó chính là phẩm chất cần thiết cho một người lãnh đạo được số phận trao cho quyền lực để tạo dựng thiên hạ?!

Trải qua quá nhiều biến cố như vậy, nhưng đến khi bắt đầu ổn định được tình hình thì nhà Trần lại phải đứng trước nguy cơ xâm lược của một thế lực quân sự mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ: giặc Thát Đát (Mông Cổ). Triều đình còn non trẻ, thế giặc quá mạnh, lòng quân nao núng, lại xuất hiện nhiều tư tưởng buông xuôi, thế nhưng khi vua hỏi ý kiến Trần Thủ Độ về việc đánh giặc, ông vẫn khẳng khái nói một câu mà sau này đã được lưu danh sử sách “Đầu thần còn chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác”, chính câu nói đó đã sốc dậy tinh thần chiến đấu của quan gia nhà Trần cũng như quân dân Đại Việt, buộc đạo quân Mông Cổ hùng mạnh phải nếm mùi thất bại. Có thể thấy rõ sự kiện quân Thát Đát xâm lược không những ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà Trần trong việc nắm giữ triều đình, mà còn quyết định đến sự tồn vong của cả một dân tộc. Câu nói bất hủ của Trần Thủ Độ ngoài tác dụng kích thích tinh thần kháng chiến, còn như một hành động nhận trách nhiệm của họ Trần với sinh mệnh của cả đất nước, qua đó ông đã lấy được niềm tin của nhân dân, để rồi cả 3 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều đã trở thành những cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh, đập tan mọi mưu đồ xâm lược.

Với tất cả những gì sử sách đã ghi nhận, chúng ta đều phải công nhận sự xuất hiện của Trần Thủ Độ cũng như sự hình thành của nhà Trần rõ ràng là một tiếp nối tất yếu và hợp lý của lịch sử. Số mệnh đã đặt ông vào đúng thời điểm nhà Lý suy vong và thảm hoạ Thát Đát đã cận kề. Có thể nhiều người cho rằng nếu không có Thủ Độ này thì sẽ ắt phải có Thủ Độ khác như Nguyễn Trãi đã nói “Hào kiệt thời nào cũng có”, thế nhưng nếu chú ý trong suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam, có quá ít nếu không nói là hầu như không có một nhân vật nào có phương pháp hành xử táo bạo, quyết liệt và giàu mưu lược như ông, đó thực sự là một điểm sáng nổi bật trong tính cách “dĩ hoà vi quý” đặc trưng của người Việt. Trong ông có phảng phất những cá tính của cả Lã Bất Vi lẫn Tào Tháo, tất cả đều là những con người có đủ cốt cách để thâu tóm thiên hạ và tạo ra được thời thế cho riêng mình. Thế nhưng điều làm tất cả những người tìm hiểu về nhà Trần bất ngờ hơn cả, đó là ông không hề yêu cầu bất cứ một quyền lợi nào cho bản thân cũng như gia quyến, mặc dù điều đó là hoàn toàn chính đáng. Lịch sử cũng không hề khắt khe khi lên án những tội ác của Thủ Độ, nhưng không ai có thể phủ nhận được một điều: nhà Trần chính là triều đại phong kiến thịnh trị và vẻ vang nhất trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam và Trần Thủ Độ hoàn toàn xứng đáng với hai câu đối mà nhân dân đã trang trọng đặt trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc):

Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải.
Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.

Dịch nghĩa: Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần. / Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam.

(Nguồn : Viettory's Blog)

Mùa xuân của Chiêu Thánh công chúa

Hoàng đế Trần Thái Tông thao thức bao đêm.

Ngài và Chiêu Thánh Hoàng hậu cùng ngự giường loan, gối phượng với nhau chín, mười năm rồi mà điều ngài mong ước vẫn chỉ là mong ước. Biết bao vương triều trên thế gian này chỉ vì Hoàng hậu và các Phi, Tần chưa có tin vui mà sinh ra lắm chuyện. Lợi dụng việc này, có những kẻ rắp tâm nảy mưu gian buôn vua, bán chúa. Chúng mưu tính kẻ kế vị khi kẻ đó còn là cát bụi ở chốn hư vô chưa đầu thai vào ai. Việc làm ấy xem ra là huyễn hoặc. Nhưng tới một ngày nào đó, chuyện kinh thiên động địa ấy có thể sẽ xảy ra. Rồi quân thần đảo lộn, phụ tử lìa xa, phu phụ ly biệt, huynh đệ tương tàn huyết lệ. Nếu Chiêu Thánh cứ chưa được Trời, Phật trông xuống, chắc chắn những chuyện chẳng lành sẽ tới. Xa gần đã có những lời đồn đại... Thái Tông Hoàng đế cảm thấy ở đâu đó không xa, một trận cuồng phong sắp tràn tới... Bỗng có tin như sét đánh bên tai nhà Vua. Một quyết định của Thái sư Trần Thủ Độ đưa ra khiến Trần Hoàng đế bàng hoàng! Đã hai mươi tuổi, lại là một hoàng đế anh minh, lẽ nào Thái Tông lại lấy chị dâu và cũng là chị gái Chiêu Thánh. Anh trai Ngài là Hoài vương có vui gì khi mất vợ? Công chúa Thuận Thiên - phu nhân Hoài Vương có vui gì khi cướp chồng em gái! Quyết định của Trần Thủ Độ đã tạo ra một mớ bòng bong về quan hệ nội ngoại tộc. Quân thần, phu thê, huynh đệ, tỷ muội đều bị đảo lộn. Cương thường, luân lý của Khổng gia trở thành trò cười. Một kẻ nông phu không biết chữ nhất một gạch nằm ngang, chữ nhị thêm một gạch ngang nữa cũng còn không dám cướp chị dâu làm vợ, huống hồ một bậc đế vương. Rặng liễu bên hồ trong vườn thượng uyển buông cành ủ rũ. Vầng trăng khuyết treo lơ lửng phía trời xa rải xuống trần gian một màu vàng nhờ nhờ khiến đêm đông càng thêm lạnh vắng. Trong tâm khảm ngài, một nỗi buồn bối rối dâng lên. Mười hai năm trước, Ngài cùng Chiêu Hoàng tác thành lúc hai người mới tám tuổi tính theo Nguyệt lịch của người Trung Hoa xưa. Nhờ cuộc hôn nhân đó, Ngài đã có được thiên hạ. Gái xuất giá phải tòng phu. Đương nhiên vợ không thể đè lên chồng. Từ ngôi nữ vương, Chiêu Hoàng tụt xuống ngôi Hoàng hậu. Hôn nhân của hai người chỉ là cái cớ. Ngôi chí tôn mới là cái đích của một đại thần triều Lý gốc gác họ Trần. Hai con rối do một người giật dây. Các trung thần nhà Lý đã nhìn thấy bóng đen đằng sau cuộc hôn nhân đó. Một triều đình mới sẽ được lập nên. Nhà Lý chấm dứt vai trò lịch sử. Cuộc đảo chính cung đình "êm ái" mang tính chất "Gia đình" ấy cũng đã có tới hơn một trăm năm chục cái đầu rơi xuống. Bởi họ phản đối cuộc hôn nhân cùng "Chiếu nhường ngôi" của Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh. Hàng nghìn người phải trốn biệt Hoàng tử thứ tám của triều Lý em vua Lý Huệ Tông là Lý Long Tường nhanh chân vượt bể trốn sang Cao Ly mới toàn mạng. Cuộc hôn nhân của Ngài với Chiêu Hoàng là một cuộc hôn nhân được dàn dựng công phu, kín kẽ đầy màu sắc ly kỳ do người cầm trịch cuộc chơi thêu dệt. Nào là nữ vương phải lòng bề tôi. Lại nữa, nữ vương té nước làm ướt áo người mình yêu. Đó chính là nữ vương bóng gió trao thiên hạ cho ý trung nhân. Nhưng có điều này là thực: Sau hôn nhân hai người lớn lên, tình yêu của họ đã nảy nở. Bởi Thái Tông tuấn tú, thông tuệ, còn Chiêu Hoàng dung quang như hoa, phẩm hạnh như ngọc, từ phú lưu thủy, hành vân. Dù tài hoa, đức hạnh như vậy nhưng Chiêu Hoàng rất khiêm từ. Hai người như chim phụng, chim hoàng mặn mà ân ái. Phải lìa bỏ Chiêu Hoàng đối với Trần Cảnh là đau đớn và phi lý. Ghê sợ hơn, Ngài phải lấy chị gái Chiêu Hoàng, vợ của anh trai mình, cướp cái thai trong bụng Thuận Thiên, lập lờ lừa thiên hạ. Thật vô luân! Muôn nghìn sau nước Nhĩ Hà cũng không rửa sạch vết nhơ. Còn Chiêu Hoàng, trước đã mất ngôi thiên tử, nay bỗng nhiên Hoàng hậu mất chồng, hỏi có bất công nào bằng?

* *
Tin hơn sét đánh bên tai... Chiêu Thánh Hoàng hậu rụng rời chân tay! "Ta phải nhường chồng cho chị gái ư! Hoàng đế tụt xuống Hoàng hậu! Hoàng hậu tụt xuống Công chúa! Ta còn tụt tới đâu? Trời xanh éo le lắm và đời tàn ác quá!" Mất ngôi Hoàng hậu, mất chồng - điều này Chiêu Thánh chưa bao giờ nghĩ tới. Lý triều đã trải bát đế nhị bách dư niên, không có vị vua nào số phận éo le, bẽ bàng, tủi khổ như Chiêu Thánh. Thái Tổ Lý Công Uẩn có thấu cho hậu duệ của Ngài không! Chiêu Thánh đốt lò trầm ngoảnh về mảnh đất phát tích của họ Lý cúi đầu lầm rầm khấn vái trong dòng lệ lặng tuôn. Vị Hoàng đế nhà Trần lặng lẽ bước tới chứng kiến việc Chiêu Thánh làm mà Hoàng hậu không biết. Chờ cho Chiêu Thánh khấn xong,

Ngài bước tới hỏi: - Lòng ta tơ vò. Hậu nghĩ hộ, ta nên làm thế nào?
Chiêu Thánh quay lại vái lạy rồi đáp: - Tâu Hoàng thượng, thần thiếp đã mang tiếng làm mất ngôi nhà Lý. Hậu thế sẽ nguyền rủa. Hận này thần thiếp sẽ mang xuống tuyền đài. Sự thể đã đến thế này, thần thiếp phó mặc cho cao xanh.
- Ta muốn Hậu nói, ta phải làm gì?
- Tâu Hoàng thượng, Ngài không bắt tội thần thiếp, thần thiếp mới dám nói.
Hoàng đế Thái Tông nói ngay: - Chiêu Thánh là Hậu của ta. Chiêu Thánh cứ nói. Bắt tội Chiêu Thánh phỏng có ích gì!
Chiêu Thánh nghẹn ngào: - Thần thiếp được Hoàng thượng ban mưa móc đã hơn mười năm. Một đời thần thiếp được hưởng bằng ấy ân tứ của trời là mãn nguyện lắm rồi. Nay đã đến nông nỗi này, Hoàng thượng quên thần thiếp đi, cứ coi như thần thiếp đã chết.
Mỗi lời của Chiêu Thánh như mỗi nhát dao cứa vào lòng Trần Hoàng đế. Cái con người mà Hoàng đế rất mực yêu thương đã phó mặc cuộc đời cho may rủi khi mới chớm hai mươi xuân. Nhưng Chiêu Thánh thật mẫn tiệp. Nàng đã nhìn thấu cuộc cờ. Chống lại người đã tạo ra tấn trò này là chống lại trời. Đến uy quyền tối linh, tối thượng của Hoàng đế cũng không lay được thế lực của người ấy. Ông ta như thạch thiên trụ. Chiêu Thánh làm gì được mà dám chống?
Đột ngột Hoàng đế hỏi Chiêu Thánh:
- Hậu có oán trách gì ta không?
- Tâu Hoàng thượng, thần thiếp chỉ biết đội ơn Người thôi ạ.
- Hậu có khuyên ta điều gì không?
Chiêu Thánh ngậm ngùi:
- Thần thiếp chỉ mong Hoàng thượng xứng đáng là con rể họ Lý.
Sững sờ giây lát, Thái Tông Hoàng đế cảm động nói:
- Cảm ơn Hậu. Trong lòng ta lúc nào cũng có một Chiêu Thánh. Những kẻ nào nói Chiêu Hoàng làm mất ngôi nhà Lý là những kẻ thật hồ đồ, u mê.

Năm Thiên ứng Chính Bình 1237, đang đêm Trần Thái Tông lặng lẽ bỏ kinh thành lên Phù Vân Tử quyết chí xuống tóc nương náu cửa Từ Bi, tránh điều vô luân, giữ tình huynh đệ, chung tình với Chiêu Thánh trong xa cách. Một mái cổ tự rêu phong giữa trúc reo, tùng biếc, suối chảy rì rầm của An Tử sơn may ra làm lòng vị vua trẻ dịu nỗi đau. Xa hồng trần đầy cạm bẫy, Ngài tưởng sẽ được yên thân gột sạch lòng phàm. Nào ngờ, cuộc vi hành của Ngài không lọt qua mắt tướng công Trần Thủ Độ. Trần Hoàng đế chưa kịp xuống tóc thì Trần Thủ Độ đã dẫn văn võ bá quan tới. Cái con người tuy dưới vua nhưng thao lược, quyền nghiêng thiên hạ nói: - Hoàng thượng đang đêm bỏ đi chơi núi không bảo thần một tiếng. Thần lo quá sợ có điều sơ xảy nên phải đuổi theo. Nếu có chậm chân, Hoàng thượng tha cho thần tội chết.
Hoàng thượng nén giận đáp: - Cả hai triều Lý, Trần không một ai dám đụng đến cái lông chân của ông. Vậy mà ông lại sợ ta sao?
Trần Thủ Độ đáp lại, lời sắc như dao: - Nhà Lý mọt ruỗng dẹp đi cho dân đỡ khổ. Nhà Trần thay thế cho sông núi thái bình. Nếu nhà Trần không khéo léo giữ lấy ngôi báu, nghìn kẻ nhảy ra tranh giành, chém giết nhau, dân tình chết chóc khổ ải. Giặc Bắc nhân lúc ấy tràn sang. Sông núi Đại Việt rơi vào tay ngoại bang. Trăm họ lầm than. Thần sợ là sợ điều đó.
Hoàng đế Thái Tông lắng nghe từng lời rồi nói: - Dẫu ít tuổi, trẫm cũng hiểu đôi điều. Ông không phải nói nữa.
Trần Thủ Độ đáp ngay, lời lẽ rất rành rọt: - Tâu Hoàng thượng, thần không thể không nói. Những việc thần làm không phải vì thần. Việc thần làm hôm nay có trăm, nghìn người chê; muôn nghìn sau, vạn ức người chê. Chỉ cần có một người khen là thần hả lắm rồi. Xin Hoàng thượng hồi triều. Kinh thành không thể vắng vua.
Thái Tông nói rõ ý mình: - Trẫm còn nhỏ dại không kham nổi việc lớn, các quan nên chọn người khác khỏi nhục xã tắc. Trần Thủ Độ nghị luận: - Hoàng tộc không thiếu người tài nhưng chân mệnh thiên tử chỉ có một. Chu Công Đán dẫu tài giỏi hơn Chu Văn Vương nhưng mệnh thiên tử không đóng vào Chu Công Đán... - Nhưng ta không thể làm việc vô luân! Hoàng thượng khảng khái nói.
Trần Thủ Độ cười lạnh lùng: - Suy nghĩ của bậc đế vương phải khác với chúng dân. Chị có khác gì em. Em nhường ngôi Hoàng hậu cho chị để ngôi rồng có người kế vị, nếu có loạn luân cũng là bởi lòng giời. Hoàng thượng hỏi: - Còn anh em ta thì sao? Trần Thủ Độ đáp: - Anh nhường vợ cho em, thần dâng vợ cho vua vì ván cờ giang sơn của dòng tộc mình dài ra, nếu là thần, thần vui mừng lắm. - Ông không sợ Hoài vương dấy binh nước sẽ loạn sao? Mắt Trần Thủ Độ long lên: - Chống vua tội gì Hoài vương tất biết. Nếu vua thương thì hãy cho "Tam ban triều điển".
Hoàng đế sẵng giọng: - Đã cướp vợ lại còn giết chồng, huynh đệ cốt nhục tương tàn. Ông cứ bắt ta làm điều bất nghĩa. Trần Thủ Độ ứng đối được ngay: - Tâu Hoàng thượng, Doanh Chính giết Lã Bất Vi mới thành Tần Hoàng, Lý Thế Dân giết anh, giết em mới hưng nghiệp Đường triều. Bậc đế vương khác người thường là ở chỗ đó, làm chủ thiên hạ phải vậy. Còn bất nghĩa ư? Điều bất nghĩa nhất là không lo cho giang sơn vững bền, không làm cho thiên hạ thái bình, thịnh trị. Thái Tông Hoàng đế dằn giọng: - Ông nên nhớ, Thánh Hiền không dạy ta bất nghĩa với anh. Cái con người đầy mưu lược của lưỡng triều tím ruột ngửa mặt lên trời than rằng: - Thủ Độ ơi là Thủ Độ! Dù ngươi ngang trời dọc đất thì chữ trung quân vẫn đè nặng trên đầu. Ngươi chỉ là một con ngựa kéo cỗ xe giang sơn. Kế hay, mưu giỏi của ngươi không khéo chuốc tội vào thân và còn làm cho hậu thế nguyền rủa. Trần Hoàng đế bực bội không đứng gần Thái sư nữa. Nhà vua xăm xăm bước lên phía trước rồi đứng tựa vào cây tùng lớn.
Quan Thái sư cảm thấy thất vọng. Ngài định buông tay để tháng ngày thong dong với đường hòe, dặm liễu. Ngài thầm nghĩ: "Ta đã hết lòng với triều đình này. Nhưng có kẻ ví ta như Lã Bất Vi, có kẻ lại coi ta như Tào Tháo. Chao ơi, ta ước ao được một phần của hai vị ấy... Nhưng ta ôm rơm thêm làm gì để càng rặm bụng và cho đời nay ghen ghét, đời sau đàm tiếu?".
Bỗng quan Thái sư nghe thấy tiếng nói không biết từ đâu vọng tới: "Trần tướng công đấy ư. Tướng công là bậc thao lược quyền mưu, hùng tâm tráng chí bao trùm sông núi. Tướng công không lo trước liệu sau để nhà Lý nhường ngôi cho nhà Trần một cách êm thấm liệu nước Nam này có thoát được một cuộc huyết lệ tương tàn, liệu sông núi này có còn trong tay người Nam hay ngoại bang nhân lúc nồi da nấu thịt mà nhảy vào xéo giày bách tính. Nhưng sao nay tướng công lại thoái chí làm vậy? Bậc nhân giả phải nghĩ tới những điều thiên hạ chưa nghĩ tới, phải làm những việc vạn ức người không dám làm, miễn sao việc làm ấy tạo phúc cho lương dân. Nếu một người làm việc gì cũng sợ thiên hạ đàm tiếu thì người đó có bao giờ làm được việc lớn. Thói thường, người người đều nghĩ theo cách cũ, đi theo lối mòn, làm lại những việc thời trước đã làm. Thấy ai có ý lạ, cách làm mới là họ xét nét, dè bỉu. Nào là thánh hiền chưa dậy, nào là cổ kim chưa có ai làm, nào là... nào là. Nếu ai cũng e dè cả, liệu sông núi có lớn lên, sáng ra không? Tướng công cứ ngoảnh lại mà xem, khi Dương Thái hậu trao long bào cho quan Thập Đạo, bọn mọt sách, bọn tà tâm ùa lên chống đối, bêu riếu bà. Nào là bà quẳng cơ nghiệp nhà Đinh cho ngoại tộc. Nào là bà bất nghĩa, thất tiết... Bà đã bỏ ngoài tai tất cả. Thái Hậu họ Dương làm như vậy vì bà nhìn thấu phúc và họa của nước của dân đã bày ra trước mắt. Tình thế không cho bà lựa chọn khác được. Nếu Dương Thái hậu không gửi gắm đại sự vào quan Thập Đạo, liệu sông núi nước Nam có còn khi mà quân Tống đã rập rình ở biên thùy. Các bậc tu mi từ lâu cứ coi nhi nữ là thường tình. Nhưng việc bà làm trước chưa hề có, sau này chắc cũng sẽ không. Tu mi mấy ai sánh được như bà? An nguy sông núi chỉ trong chớp mắt. Bà không quyết không được. Đời thương, ghét, khen, chê mặc đời, phúc cho dân cho nước là bà làm. Vậy mà một người ngang trời dọc đất như tướng công trước việc nên làm thì lại nản lòng. Xem ra, chí tướng công không sánh kịp chí đàn bà. Ta chỉ tiếc cho công lao của tướng công đã phù rập triều đình bấy nay không khéo sẽ uổng phí bởi chính sự chùn bước của tướng công. Có xả thân mới thành nhân, còn muốn tìm sự an nhàn thì nói làm gì". Thái sư Trần Thủ Độ giật mình bèn hỏi;" Ngài là ai mà thông thuộc đại cuộc trước và nay của núi sông đến thế?". Lập tức tiếng vọng từ xa dội lại: "Ta là ai ư? Ta là linh khí sông núi nước Nam. Ta cảm phục tướng công đã phò ủng nhà Trần. Nhưng ta buồn bởi tướng công có vẻ thoái chí. Song ta tin tướng công sẽ hồi tâm. Thôi, âm dương tương kiến thế là đủ rồi. Đừng hỏi gì ta nữa".

Trần tướng công bàng hoàng như vừa qua một giấc mơ giữa thanh thiên bạch nhật. Ngài định thần rồi bước tới trước Hoàng đế nhà Trần cúi đầu cung kính: - Vì giang sơn nhà Trần, vì trăm họ trông ngóng... thần dẫu chết cũng không bỏ nước cờ đã lường tính. Hoàng đế Thái Tông muốn được yên thân nơi rừng núi vắng bèn nói: - ý trẫm đã quyết, các người về đi. An Tử là nơi trời dành riêng cho Trẫm. Trần Thủ Độ chớp chớp mắt: - Vua ở đâu triều đình ở đấy. Tổng quản Thái giám đâu mau lo dựng cung điện trước chùa này. Ta về kinh thành mang quốc ấn cùng bài vị tổ tiên lên đây ngay. Biết Thủ Độ không nhượng bộ, rồi câu nói của Chiêu Thánh bỗng vang lên trong lòng: "Thần thiếp chỉ mong Hoàng thượng xứng đáng là con rể họ Lý", Thái Tông lúc ấy mới nhận ra ý nghĩa sâu xa trong câu nói đó. Ngài vái trời và khấn thầm: Xin trời cao soi xét. Nếu vì xã tắc mà phạm tội, Trần Cảnh này xin làm. Chiêu Hoàng ơi, ta không phụ lòng Hậu.

* *
Năm Nguyên Phong thứ 7, Đinh Tỵ - 1257, mùa đông tướng Nguyên Mông là Ngột Lương Hợp Thai kéo quân sang đánh Đại Việt. Phòng tuyến Bình Lệ Nguyên - vùng Hương Canh, Vĩnh Yên ngày nay, bị núng. Hoàng đế Thái Tông Trần Cảnh xông pha tên đạn trực tiếp đốc chiến nhưng vẫn không ngăn được vó ngựa giặc Thát. Giữa lúc đó, có một dũng tướng như ở trên trời rơi xuống, một thương một ngựa tả đột hữu xung. ánh thương lóe lên như ánh chớp. Dũng tướng đi tới đâu, giặc tan tới đó. Vua rất đỗi ngạc nhiên thầm khen: "Người này chẳng khác gì Triệu Tử Long của Trung Nguyên xưa". Nhờ có dũng tướng đó mà trận Bình Lệ Nguyên ta đại thắng. Hỏi tên họ, vua biết người đó là Lê Tần. Thái Tông chợt nhớ lại giấc mơ đêm trước. Ngài gặp một người khó đoán định được tuổi, rất già lại rất trẻ, uy phong lẫm liệt, tướng mạo, khẩu khí đế vương đã nói với Ngài: "Trần Cảnh đấy ư? Ta không nghĩ rằng ngươi cướp ngôi nhà Lý. Vận nhà Lý tận, con rể giữ ngôi rồng cho họ vợ là may. Vì Lý hay Trần đều là người Nam cả. Ngươi phải tạ lỗi với Trần tướng công. Triều đình phải có những người như Thủ Độ thì việc lớn mới mong thành. Đừng vì tật nhỏ mà bỏ tài cao nếu bản tâm người đó trung chính. Mưu cao, kế hay không đụng người này cũng chạm người nọ. Ông Hoàng bà Chúa cản trở việc lớn có lợi cho bách tính thì cứ dẹp họ đi. Ngày mai, người xông pha tên đạn sẽ có người giúp. Ngươi đừng núng chí..."
Nhà vua chắp tay vái rồi hỏi: "Chẳng hay Ngài là ai mà lại an ủi Trẫm như vậy?"
Người ấy đáp: "Người đã hỏi thì ta không giấu làm gì. Ta là người lập nên triều Lý", Thái Tông sợ quá sụp xuống lạy. Lúc ngửng lên nhà vua không thấy Lý Thái Tổ đâu nữa. Thái Tông bừng giấc ngồi tới sáng rồi lao ngay ra phòng tuyến Bình Lệ Nguyên, quên khuấy giấc mơ. Phòng tuyến sắp vỡ, Lê Tần xuất hiện. Đức vua thầm nghĩ: "Người giúp ta đã được thánh thần báo trước là đây ư?".

Mùa xuân năm Mậu Ngọ - 1258, Vua xét thưởng cho quân tướng. Lê Tần công đầu, được Vua ban danh là Phụ Trần, thưởng cho Chiêu Thánh Công chúa. Bãi triều, Vua gọi Lê Phụ Trần và Chiêu Thánh lên hỏi: - Chiêu Thánh và Phụ Trần thấy thế nào việc ta lo cho hai người?
Phụ Trần cung kính: - Tâu Hoàng Thượng, hạ thần tuân chỉ. Nếu có trở ngại, trở ngại đó ở phía Chiêu Thánh Công chúa.
Thái Tông hỏi Chiêu Thánh: - Công chúa có băn khoăn gì cứ nói để Trẫm biết cách lo liệu?
Chiêu Thánh buồn rầu nói: - Tâu Hoàng thượng, hạ thần đâu dám kháng chỉ. Nhưng có điều này hạ thần xin được nói. Trong lòng hạ thần chỉ có Trần Cảnh. Kết hôn với Phụ Trần là phần bề tôi phải làm theo ý Vua.
Vua hỏi Phụ Trần: - Chiêu Thánh nói vậy, tướng quân có phật lòng không?
Phụ Trần vái lạy nói: - Đội ơn bệ hạ, hạ thần phải cảm ơn Chiêu Thánh. Tuân chỉ, hạ thần thành thân với Chiêu Thánh là vinh hạnh lắm rồi. Sau lễ tác hợp, Chiêu Thánh làm gì, đi đâu, hạ thần vui lòng chiều theo ý của Công chúa.
Vua cảm kích lắm nói: - Chiêu Thánh yêu quý của ta, làm vua có cái khổ của làm vua. Ta vì xã tắc phải lìa xa Chiêu Thánh. Vì ta Chiêu Thánh hãy làm một phu nhân tốt của Phụ Trần. Ta tin rằng hậu thế không khắt khe với chúng ta đâu.
Chiêu Thánh ứa lệ nói: - Có lời nào của Trần Cảnh, Chiêu Hoàng không nghe đâu. Lần này Chiêu Hoàng càng phải nghe, vì lần này là chủ ý của Trần Cảnh gả chồng cho vợ! Thế gian cổ kim có một. Như thế Trần Cảnh mới là Trần Cảnh.

Tròn một năm sau, phu nhân Phụ Trần khai hoa sinh con trai là Lê Tông. Thái Tông đến mừng nói: - Trẫm mừng cho hai khanh. Mùa xuân lại bắt đầu với Chiêu Hoàng khiến lòng trẫm càng đau. Giá điều này diễn ra với Chiêu Thánh Hoàng hậu trước đây hơn hai mươi năm... Nhưng thôi, miễn là Chiêu Hoàng có mùa xuân.

* *
Nghe tin phu nhân Phụ Trần sinh con trai, Thái sư cũng đến mừng.
Ngài nói: - Tôi biết phu nhân oán tôi lắm. Dẫu là vậy, phu nhân có tin vui, tôi không thể không đến chúc mừng. Chiêu Thánh ngẫm nghĩ rồi thản nhiên nói: - Đa tạ ông. Tôi vừa trọng ông lại vừa khinh ông. Trọng ông vì ông một lòng với nhà vua. Khinh ông bởi, vì một cái ngai vàng, ông có thể làm bất cứ một việc gì mà ông đã định.
Thái sư khẽ nhếch mép, nói: - Nhưng với phu nhân kết quả rất mãn hậu. Duyên của phu nhân và Trần Cảnh chỉ đến thế, kéo dài thêm nữa, họa lớn hơn phúc chẳng những cho phu nhân mà còn cho cả trăm họ.
Chiêu Thánh cười, đáp: - Tôi biết chứ. Họa hay phúc trong tay ông cả. Như tôi, tôi có xá gì. Tôi thương chồng nên làm theo ý Trần Cảnh. Tôi dám chống lại lắm. Nhưng tôi chống lại, ông không tiếc gì một con dao hay ba thước lụa... Đến nước ấy, ông và Trần Cảnh có thêm một hiềm thù lớn, chắc chắn không còn lương thần minh chúa nữa mà chỉ có thảm khốc. Cuối cùng, tội vạ đổ xuống đầu dân. Tôi yêu Trần Cảnh vô vàn nên tôi không thể làm khổ Trần Cảnh. Tôi phải nhường chồng là vì chồng chứ đâu có sợ lưỡi gươm của ông.

Trần Thủ Độ sững người. Kẻ đầu tiên ném vào quan Thái sư câu: "Tôi đâu có sợ lưỡi gươm của ông" lại là một giai nhân dáng mai, vóc liễu.
Trần Thủ Độ cảm phục lắm, nói: - Hôm nay, kẻ công bộc này mới biết được cái gan của Chiêu Thánh. Thủ Độ tôi kính phục bội phần. Chiêu Hoàng vì Trần Cảnh nghĩa là đã vì giang sơn Đại Việt. Bà là người biết tiến biết lui nên nước cờ giang sơn của tôi không bị rối. Bà đúng là một vị Thánh.

Rồi Trần Thái sư ngẩng mặt lên trời than: "Mong Hoàng Thiên soi xét. Nếu hậu thế có nguyền rủa thì hãy nguyền rủa Thủ Độ tôi, xin đừng ai đụng đến Nữ vương nhà Lý - Hoàng hậu nhà Trần." Phụ Trần phu nhân cũng phải cảm động bởi câu nói ấy. Bà nhìn quan Thái sư. Hình như hai mắt Trần Thủ Độ rơm rớm nước.../.

Phạm Thái Quỳnh (www.vnthuquan.net)

Vân Đồn

Vân Đồn là tên của một thương cảng quốc tế sầm uất có từ thời nhà Lý. Đầu năm 1288, cái tên này đã được gắn với một trong những trận thủy chiến lớn và mang ý nghĩa chiến lược nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong trận đánh này, Nhân Huệ Vương – Trần Khánh Dư đã cho quân phục kích trên suốt quãng đường thủy từ Vân Đồn đến Cửa Lục (TP Hạ Long ngày nay) để đập tan đoàn thuyền chở lương của quân Nguyên Mông xâm lược. Chiến thắng này đã thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ 3 của Hốt Tất Liệt. Quân giặc bị đẩy vào thế thiếu thốn quẫn bách buộc phải rút lui, mở đường cho chiến thắng Bạch Đằng Giang vĩ đại sau đó không lâu.

Gần ba năm trước tôi đã có dịp đến Vân Đồn để tìm về nơi đã diễn ra trận đánh lịch sử. Tuy nhiên đến đây rồi mới biết Vân Đồn chỉ là cái tên mới cho một huyện đảo nằm cách thị xã Cẩm Phả không xa. Nơi tôi lẽ ra phải đến nằm tận ngoài khơi vịnh Hạ Long: đảo Quan Lạn.


Cảng Cái Rồng trên huyện đảo Vân Đồn (ngày nay)

Từ bến tàu Hòn Gai (Hạ Long) đến đảo Quan Lạn, mỗi ngày chỉ có duy nhất một chuyến tàu khởi hành lúc 13 giờ 30 phút. Cuộc hành trình ngẫu nhiên lại trùng với tuyến đường thủy của trận đánh Vân Đồn – Cửa Lục năm nào. Điều này đã khiến tôi bớt ái ngại về một chuyến đi kéo dài bốn tiếng trên biển cùng với những người lạ mặt.

Tàu cập bến Quan Lạn vào buổi chiều muộn cùng ngày. Địa điểm đầu tiên tôi đến thăm là đình Quan Lạn. Đây là một ngôi đình khá to với kết cấu cột, kèo là những thân gỗ lớn được điêu khắc rất tinh xảo. Mặc dù đang được trùng tu, nhưng những người có trách nhiệm vẫn có ý thức giữ gìn nét kiến trúc đặc trưng như vốn có của nó. Tôi cảm thấy tiếc cho khá nhiều đền chùa sau khi được tôn tạo bỗng trở thành những công trình bê tông thiếu tính tổng thể với phong cách kiến trúc màu mè và xa lạ.


Phong cách kiến trúc đặc trưng


Những nét chạm khắc tinh xảo

Vì lúc đó trời đã bắt đầu tối nên phải đợi đến sáng hôm sau tôi mới có thể bắt đầu chuyến đi tới địa điểm đã diễn ra trận đánh. Sách vở chỉ nói chung chung rằng trận chiến bắt đầu diễn ra từ khu vực Quan Lạn mà không chỉ đích danh ở đâu. Thật may cho tôi, đền thờ Trần Khánh Dư có lưu trữ một tài liệu trong đó nói rằng trận thủy chiến đã diễn ra trên dòng sông Mang. Tuy nhiên, thông tin này cũng đã khiến tôi rất băn khoăn vì chưa bao giờ tưởng tượng ra trận Vân Đồn lại có thể diễn ra trên phạm vi của một con sông. Mãi tới lúc có mặt tại hiện trường tôi mới có thể gỡ bỏ được những băn khoăn này. Gọi là sông nhưng thực chất đây là một eo biển khá rộng giữa hai hòn đảo: Quan Lạn và Trà Bản. Theo lời kể của người đưa tôi tới đây, Trần Khánh Dư đã cho tàu chiến ẩn náu trong các con lạch được các hẻm núi che chắn, đợi tàu hộ tống của địch đi qua mới đánh thẳng vào mạng sườn của đoàn thuyền chở lương vốn không có nhiều chức năng phòng thủ. Cách đánh này cũng được áp dụng trên suốt quãng đường tới Cửa Lục với vô vàn núi đá nhấp nhô, rất thuận lợi cho việc phục kích của thủy quân Đại Việt. Kết quả là đoàn thuyền lương hùng hậu của tướng giặc Trương Văn Hổ đã bị gọt tỉa đến tan vỡ hoàn toàn.


Dòng sông Mang, nơi đã diễn ra trận thủy chiến Vân Đồn - Cửa Lục

Không thể phủ nhận khả năng cầm quân của Trần Khánh Dư, nhưng điều khiến tôi hứng thú nhất ở vị phó tướng này lại nằm ở cá tính hết sức con người của ông. Lúc “mạt vận” ông đi bán than kiếm sống, khi “lên voi” ông được phong tướng rồi lập đại công. Việc cai quản vùng thương cảng Vân Đồn sầm uất có lẽ đã biến Khánh Dư thành một con người thích kiếm chác. Thế nên trong Đại Việt Sử Ký toàn thư mới có chuyện ông thu mua toàn bộ nón Ma Lôi với giá rẻ, sau đó ra lệnh dân chúng phải đội loại nón này để phân biệt với người Hồ, rồi sai quân đi bán nón giá cao đề thu lời. Cách kiếm tiền này rõ ràng là bất chính, tuy nhiên đối với Trần Khánh Dư, một con người có bản lĩnh, có nhãn quan chiến lược nhưng cũng không hề ít tật, thì chẳng có gì là không thể xảy ra. Đến đây tôi chỉ có thể mỉm cười và thắp cho ông nén hương để tỏ lòng bái phục.

Vân Đồn cũng đã từng là một thương cảng quốc tế, là trung tâm giao thương giữa Đại Việt và các nước xung quanh như: Trảo Oa (Java), Xiêm La (Thái), Tam Phật Tề (Sumatra), Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước nam Á khác. Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư, các mặt hàng xuất khẩu của Đại Việt chủ yếu là nguyên liệu, sản vật và đồ sành sứ. Điều này hoàn toàn phù hợp với những gì tôi được chứng kiến ở Quan Lạn. Một bãi rộng (do thủy triều rút tạo nên) đã phát lộ vô số các mảnh đồ gốm. Người dân ở đây cho biết từ xưa đến nay trên đảo không có bất cứ một cơ sở sản xuất gốm sứ nào. Đây rõ ràng là những vết tích của một thương cảng sầm uất trong quá khứ.


Dấu tích thương cảng xưa

Mặc dù đã biết trước du lịch Quan Lạn mới chỉ được đưa vào khai thác một vài năm gần đây, tuy nhiên tôi vẫn khá bất ngờ vì vẻ đẹp còn rất hoang sơ của nơi này. Tôi đã ghé qua hai bãi tắm trên đảo. Cả hai đều rất đẹp với những bãi cát trắng trải rộng. Cũng thật thú vị khi được biết tại chốn biển trời này lại có một nơi mang tên Sơn Hào.


Tìm Hải Vị trên bãi biển Sơn Hào

Tiềm năng du lịch ở Quan Lạn là rất cao. Nếu biết kết hợp ba yếu tố: biển, thắng cảnh và lịch sử; cũng như có sự đầu tư hợp lý, tôi dám cho rằng trong tương lai không xa nơi đây sẽ trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng. Nhất định tôi sẽ trở lại.

(Trích từ Blog Viettory)

Về chiến trường xưa Vạn Kiếp

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh

Cặp đối này cũng đồng thời là lời giới thiệu cô đọng nhất về mảnh đất Vạn Kiếp một thời khí phách. Vào năm 1283, trên dòng Lục Đầu Giang đã diễn ra hội nghị Bình Than. Ở đó, mọi thế hệ, mọi thành phần từ những thiếu niên tuổi 16 như Trần Quốc Toản đến các bậc bô lão; từ dân thường đến quan gia, tất cả đều hô “ĐÁNH” để thể hiện sự quyết tâm kháng chiến cứu quốc. Nơi đây vừa là chiến trường, cũng vừa là nơi Hưng Đạo Đại Vương tập hợp đại quân để có những điều tiết, sách lược hợp lý, dẫn đến các chiến thắng oanh liệt trước đội quân Nguyên Mông hùng mạnh.

Tôi bắt đầu cuộc hành trình của mình bằng việc bắt xe khách đến thị trấn Sao Đỏ (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Từ đây, tôi lại tiếp tục đi xe ôm thêm hơn 10km nữa để đến xã Hưng Đạo, nơi có đền thờ Kiếp Bạc nằm bên bờ Lục Đầu Giang. Ngôi đền từ thế kỷ 14 này được nhân dân xây dựng để thờ Quốc công tiết chế - Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và các gia tướng.

Từ một ngôi đền nhỏ, “Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước” (bằng chứng là bút tích của các vị lãnh đạo cao cấp nhất) khu vực đền Kiếp Bạc đã được trùng tu khá khang trang. Tuy nhiên điều gây ấn tượng cho tôi hơn cả lại là phần cổng đền được giữ gần như nguyên trạng từ thế kỷ 14 với nét kiến trúc rất mộc mạc, nhưng không hề mất đi vẻ uy nghiêm, bề thế. Trong khuôn viên đền còn có một phòng trưng bày nhỏ với các hiện vật thời Trần bao gồm cả một thân lim được lấy từ trận địa cọc Bạch Đằng năm xưa.


Cổng đền Kiếp Bạc

Công tác hương khói xong xuôi, tôi đi bộ ra bến sông ngay sát đó. Trèo qua một bờ đê được kiên cố hóa bằng bê tông, trước mắt tôi đã là dòng Lục Đầu Giang rộng đến ngút tầm mắt. Làn gió thơm mát và cảm giác mình đang đứng ở nơi đã diễn ra hội nghị Bình Than lịch sử làm tôi khá hưng phấn. Ngay chỗ tôi đứng, hai lá cờ Đông A và Việt Nam cùng bay phần phật trong gió gợi nên những cảm giác thật khó tả. Tất cả đã xóa đi sự bực mình mà trước đó một vài dịch vụ buôn thần bán thánh đã khiến tôi phải mất một khoản tiền đáng kể.


Lục Đầu Giang



Hào khí Đông A hòa cùng tinh thần Việt

Rời Vạn Kiếp, tôi hướng tới Nam Sách để tiếp tục cuộc hành trình của mình. Địa điểm tiếp theo là làng Trần Xá (cách Nam Sách gần 20km), nơi cũng được cho là đã diễn ra hội nghị Bình Than (tốt nhất là cứ đi thừa còn hơn bỏ sót). Tại đây, bên bến đò trên con sông Kinh Thầy (là 1 trong sáu nhánh sông tạo nên Lục Đầu Giang), có đền Gốm thờ Nhân Huệ Vương. Ông già gác đền đã kể cho tôi ngay tại khu vực này, người bán than Trần Khánh Dư đã được vua xá tội để tham gia đội ngũ tướng lĩnh cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, để rồi chính ông đã chỉ huy thắng lợi trận Vân Đồn rất chiến lược sau này.



Bến đò Trần Xá

Thành phố Hải Phòng là điểm dừng chân cuối cùng của tôi trong ngày xuất hành. Bãi cọc Bạch Đằng và Vân Đồn sẽ là những điểm đến trong các ngày tiếp theo.

(Nguồn : Viettory's Blog)